I. Đại cương
– Khái niệm và đặc điểm dịch tễ:
+ Viêm cột sống dính khớp (ankylosing spondylitis) là bệnh lý thấp viêm mạn tính hệ thống thuộc nhóm bệnh lý khớp cột sống huyết thanh âm tính, đặc trưng bởi tổn thương ưu thế tại khớp cùng chậu, cột sống và các khớp ngoại biên chi dưới, kết hợp tình trạng viêm các điểm bám gân.
+ Bệnh có xu hướng tiến triển xơ hóa, vôi hóa hệ thống dây chằng và dính khớp xương hoàn toàn ở giai đoạn muộn, dẫn đến tàn phế nghiêm trọng nếu không được can thiệp sớm.
+ Mẫu hình dịch tễ ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh ưu thế ở nam giới so với nữ giới từ 2:1 đến 3:1; lứa tuổi khởi phát phổ biến ở thanh thiếu niên và người trẻ tuổi (từ 15 đến 30 tuổi), rất hiếm khi khởi phát sau 45 tuổi.
– Phân bố tổn thương:
+ Cột sống và khớp cùng chậu là vị trí tổn thương nguyên phát bắt buộc; trong đó viêm khớp cùng chậu hai bên là dấu hiệu đặc trưng kinh điển của bệnh.
+ Các khớp ngoại biên thường gặp tổn thương bao gồm khớp háng, khớp gối và khớp cổ chân với tính chất viêm không đối xứng, ưu thế chi dưới.
+ Viêm điểm bám gân tại các vị trí chịu lực như gân gót, gân cơ tứ đầu đùi, cân lòng bàn chân và các điểm bám dây chằng quanh cột sống, khung chậu.
– Căn nguyên bệnh sinh và yếu tố tương tác gen – môi trường:
+ Sự hiện diện của yếu tố di truyền kháng nguyên hòa hợp mô HLA-B27 đóng vai trò then chốt, ghi nhận ở trên 90% bệnh nhân; bên cạnh đó là sự tham gia của các gen liên quan như ERAP1 và IL23R.
+ Yếu tố gia đình ghi nhận ở khoảng 10% đến 20% các trường hợp có tiền sử thế hệ thứ nhất mắc bệnh.
+ Yếu tố khởi phát từ môi trường như nhiễm trùng đường tiêu hóa hoặc tiết niệu gây hiện tượng dung nạp chéo và mất cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột.
– Cơ chế bệnh sinh ở mức độ vi cấu trúc và động lực học xơ hóa – tạo xương:
+ Sự tương tác giữa yếu tố di truyền và vi sinh vật kích hoạt đường truyền tín hiệu miễn dịch trục IL-23/IL-17 và các cytokine hướng viêm, đặc biệt là yếu tố hoại tử u alpha (TNF-alpha).
+ Phản ứng viêm mạn tính tại vùng nối giữa gân, dây chằng, bao khớp và vỏ xương gây ra quá trình thâm nhiễm tế bào viêm, tiêu xương mảng nhỏ kèm phù tủy xương dưới sụn.
+ Tiếp nối giai đoạn tiêu xương là quá trình lành thương bất thường, kích hoạt tế bào tạo xương dẫn đến xơ hóa, vôi hóa gân – dây chằng, hình thành cầu xương đốt sống và dính khớp xương toàn phần.
– Vai trò của các phương tiện chẩn đoán hình ảnh:
+ MRI đóng vai trò then chốt trong việc phát hiện tổn thương viêm hoạt tính giai đoạn sớm trước khi có thay đổi cấu trúc trên X-quang quy ước, đặc biệt là hình ảnh phù tủy xương quanh khớp cùng chậu trên chuỗi xung STIR và T2W xóa mỡ.
+ X-quang quy ước và MDCT giúp đánh giá, trắc lượng các tổn thương cấu trúc giai đoạn muộn như bào mòn vỏ xương, đặc xương dưới sụn, cầu xương và dính khớp xương.
  NỘI DUNG WEB
» 422 Bài giảng chẩn đoán hình ảnh
» X-quang / Siêu âm / CT Scan / MRI
» 25.000 Hình ảnh case lâm sàng
  ĐỐI TƯỢNG
» Kỹ thuật viên CĐHA
» Sinh viên Y đa khoa
» Bác sĩ khối lâm sàng
» Bác sĩ chuyên khoa CĐHA
  Nội dung Bài giảng & Case lâm sàng thường xuyên được cập nhật !
  Đăng nhập Tài khoản để xem Nội dung Bài giảng & Case lâm sàng !!!
– Tổn thương chủ yếu tập trung tại bộ xương trục bao gồm khớp cùng chậu hai bên, toàn bộ các đoạn cột sống và khớp háng; trong đó khớp cùng chậu là vị trí tổn thương nguyên phát kinh điển. – Viêm khớp cùng chậu là tổn thương nguyên phát kinh điển và xuất hiện sớm nhất, mang tính chất đối xứng hai bên ở trên 85% các trường hợp. + Độ 1 (nghi ngờ): mờ nhẹ diện khớp, mất độ sắc nét của bờ xương dưới sụn nhưng chưa ghi nhận tổn thương khuyết xương rõ rệt. => Case lâm sàng 1: + Độ 2 (tổn thương tối thiểu): bộc lộ tổn thương khu trú với hình ảnh bào mòn vỏ xương nhỏ hoặc đặc xương phản ứng diện hẹp, chiều rộng khe khớp còn bảo tồn. + Độ 3 (tổn thương tiến triển): tổn thương rõ ràng với hình ảnh bào mòn xương nham nhở, đặc xương phản ứng dải rộng hai bên diện khớp, hẹp khe khớp hoặc dính khớp một phần. + Độ 4 (dính khớp hoàn toàn): khe khớp cùng chậu biến mất hoàn toàn, thay thế bằng cầu xương liên tục gây dính khớp xương toàn phần. – Khớp háng là khớp ngoại biên chịu lực tổn thương phổ biến nhất (chiếm 30% đến 50% các trường hợp), đóng vai trò yếu tố tiên lượng nặng và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tàn phế vận động. – Đặc điểm tổn thương cột sống và biến đổi cấu trúc giai đoạn sớm: – Đặc điểm tổn thương Romanus và hiện tượng đốt sống vuông: – Đặc điểm chẩn đoán hình ảnh tổn thương Andersson: – Quá trình vôi hóa dây chằng, vòng xơ và cơ chế hình thành cầu xương: – Đặc điểm cột sống cây tre, dấu hiệu dao găm và nguy cơ gãy ngang do dính khớp: => Case lâm sàng 1: => Case lâm sàng 2: => Case lâm sàng 3: => Case lâm sàng 4: – Hội chứng tăng sinh xương lan tỏa vô căn(diffuse idiopathic skeletal hyperostosis – DISH): – Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định theo tiêu chuẩn New York sửa đổi năm 1984: + Tiêu chuẩn lâm sàng gồm đau thắt lưng kiểu viêm kéo dài từ 3 tháng trở lên (cải thiện khi vận động, không giảm khi nghỉ ngơi), hạn chế biên độ vận động cột sống thắt lưng ở cả hai mặt phẳng đứng dọc và đứng ngang, và hạn chế độ giãn lồng ngực so với chuẩn sinh lý theo tuổi và giới. – Tiêu chuẩn phân loại ASAS và giá trị chẩn đoán sớm của MRI kết hợp HLA-B27: – Phù tủy xương dưới sụn là tổn thương nguyên phát bắt buộc và có giá trị quyết định để chẩn đoán viêm khớp cùng chậu hoạt tính theo tiêu chuẩn ASAS, biểu hiện bằng vùng tăng tín hiệu trên chuỗi xung STIR (hoặc T2 xóa mỡ) và giảm tín hiệu tương ứng trên chuỗi xung T1W tại vùng xương xốp quanh diện khớp. – Biểu hiện của tổn thương viêm hoạt tính (thể cấp tính) là hiện tượng phù tủy xương khu trú tại góc trước và góc sau thân đốt sống, đặc trưng bởi vùng tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W và STIR, giảm tín hiệu tương ứng trên chuỗi xung T1W. – Biểu hiện MRI đặc trưng gồm tổn thương dạng bán cầu đối xứng qua mâm sụn đĩa đệm tại bờ diện khớp của một hoặc hai thân đốt sống kề cận, bộc lộ tín hiệu phù tủy xương với tăng tín hiệu trên chuỗi xung T2W, STIR và giảm tín hiệu trên chuỗi xung T1W. – Nguyên tắc điều trị toàn diện và mục tiêu lâm sàng: – Phác đồ điều trị nội khoa theo khuyến cáo ASAS/EULAR: – Vai trò của chẩn đoán hình ảnh trong chỉ định và theo dõi điều trị: – Chỉ định can thiệp ngoại khoa:II. Chẩn đoán x-quang
– Khoảng 20% trường hợp bộc lộ tổn thương các khớp ngoại biên ngoài khớp háng như khớp gối, khớp cổ chân và các khớp bàn chân, với đặc tính viêm không đối xứng kèm viêm điểm bám gân.* Viêm khớp cùng chậu
– Bờ khớp phía xương chậu luôn bộc lộ tổn thương sớm và nghiêm trọng hơn phía xương cùng, do đặc điểm vi giải phẫu với lớp sụn sợi bao phủ mỏng hơn đáng kể so với lớp sụn trong phía diện khớp xương cùng.
– Triệu chứng lâm sàng thấp viêm thường xuất hiện trước các biến đổi cấu trúc rõ ràng trên X-quang quy ước từ 3 đến 9 năm, tạo nên khoảng trống chẩn đoán ở giai đoạn tiền X-quang.
– Các giai đoạn biến đổi cấu trúc đặc trưng trên hình ảnh học:
+ Giai đoạn sớm ghi nhận hiện tượng giãn khe khớp giả tạo do quá trình bào mòn và khuyết xương tiến triển mạnh tại vùng xương dưới sụn.
+ Giai đoạn trung gian bộc lộ chuỗi tổn thương phối hợp gồm khuyết xương dưới sụn bờ nham nhở hình tem thư, kết hợp dải đặc xương phản ứng hai bên diện khớp.
+ Giai đoạn muộn dẫn đến dính khớp xương hoàn toàn, biểu hiện bằng khe khớp cùng chậu hẹp mờ dạng đường xơ mảnh hoặc biến mất hoàn toàn.
– Phân loại (Tiêu chuẩn New York sửa đổi):
+ Độ 0 (bình thường): diện khớp rõ nét, chiều rộng khe khớp trong giới hạn sinh lý, không có hình ảnh bào mòn hay đặc xương phản ứng.* Viêm khớp háng
Tổn thương mang tính chất đối xứng hai bên với đặc trưng hẹp khe khớp đồng tâm toàn bộ mặt khớp, giúp phân biệt rõ nét với đặc điểm hẹp khe khớp không đồng đều khu trú tại vùng chịu lực trong thoái hóa khớp.
– Các giai đoạn biến đổi cấu trúc và tiến triển dính khớp háng:
+ Giai đoạn sớm bộc lộ hình ảnh bào mòn vỏ xương vi mô, khuyết xương dưới sụn dạng viền kèm dải đặc xương phản ứng quanh ổ chảo và chỏm xương đùi.
+ Giai đoạn tiến triển xuất hiện các vòng gai xương tân tạo dạng chồi quanh bờ ổ chảo và vùng nối cổ chỏm xương đùi, kết hợp quá trình hẹp khe khớp tiến triển.
+ Giai đoạn muộn dẫn đến dính khớp xương hoàn toàn, khởi đầu bằng sự hình thành các dải xơ vôi hóa bắc cầu qua khe khớp, tiếp nối bằng quá trình liên tục hóa cấu trúc vỏ xương và tủy xương giữa chỏm xương đùi và xương chậu.* Tổn thương cột sống
[gallery link="file" columns="5" ids="143846,143847,143848,143849,143850"]
+ Thâm nhiễm viêm tại vị trí bám của vòng xơ và dây chằng dọc trước vào góc thân đốt sống gây tiêu xương, bào mòn bờ trước, làm mất độ cong lõm giải phẫu tự nhiên và tạo nên hình ảnh đốt sống vuông.
+ Quá trình đặc xương phản ứng tiếp nối tại các góc đốt sống bị bào mòn tạo thành vùng tăng độ đậm đặc xương hình tam giác kinh điển, hình thành dấu hiệu góc sáng trên phim X-quang nghiêng (tương ứng tổn thương Romanus giai đoạn xơ hóa).
+ Sự tiến triển của phản ứng xơ hóa và vôi hóa tại bờ ngoài vòng xơ đĩa đệm dẫn đến sự hình thành các cầu xương mọc theo chiều dọc, nối liền góc trên và góc dưới của các đốt sống kề cận.
+ Biến đổi thứ phát tại mâm đốt sống và đĩa đệm (tổn thương Andersson) bộc lộ qua hình ảnh tiêu xương mâm sụn diện rộng kèm hẹp hoặc biến dạng khoảng đĩa đệm, hậu quả của phản ứng viêm mạn tính hoặc gãy cầu xương liên khớp.
+ Tổn thương Romanus là biểu hiện của tình trạng viêm điểm bám gân tại vị trí tiếp giáp giữa vòng xơ đĩa đệm và vỏ xương góc thân đốt sống, đặc trưng bởi phản ứng tiêu xương và bào mòn bề mặt.
+ Trên phim X-quang cột sống tư thế nghiêng, diện bào mòn góc trước thân đốt sống kết hợp quá trình bồi tụ xương xơ hóa làm mất độ cong lõm giải phẫu tự nhiên, khiến bờ trước thân đốt sống trở nên phẳng thẳng và tạo nên dấu hiệu đốt sống vuông.
+ Quá trình sửa chữa và xơ hóa sinh học sau tổn thương bào mòn cấp tính dẫn đến hiện tượng đặc xương hình tam giác tại các góc thân đốt sống, tạo nên hình ảnh dấu hiệu góc sáng trên X-quang nghiêng (tương ứng tổn thương Romanus giai đoạn mãn tính).
+ Tổn thương Romanus thường xuất hiện sớm ở đoạn cột sống ngực và thắt lưng, đóng vai trò dấu hiệu đặc trưng định hướng chẩn đoán viêm cột sống dính khớp giai đoạn chưa có cầu xương.
+ Là tình trạng viêm đĩa đệm – đốt sống vô trùng không do vi khuẩn, xuất hiện ở khoảng 8% bệnh nhân viêm cột sống dính khớp, thể hiện biến đổi cấu trúc giai đoạn muộn hoặc biến chứng khớp giả sau gãy xương ẩn.
+ Cơ chế bệnh sinh gồm hai thể chính: thể viêm mạn tính do thâm nhiễm tế bào viêm tại mâm sụn đĩa đệm trung tâm, và thể cơ học thứ phát do sự mất vững sinh cơ học kèm hình thành khớp giả trên đoạn cột sống đã dính khớp toàn bộ.
+ Hình ảnh X-quang đặc trưng bởi các ổ bào mòn xương và khuyết xương dưới sụn tập trung ở phần trung tâm mâm đốt sống, hoàn toàn không liên quan đến mép góc trước hay góc sau thân đốt sống, kèm đặc xương phản ứng diện rộng kề cận.
+ Chẩn đoán phân biệt quan trọng với viêm đĩa đệm – đốt sống nhiễm trùng: tổn thương Andersson không xuất hiện khối áp xe phần mềm cạnh sống hay khoang ngoài màng cứng, không phá hủy diện rộng cấu trúc đốt sống và không kèm hội chứng nhiễm trùng cấp tính.
+ Vôi hóa các sợi ngoài của vòng xơ đĩa đệm kết hợp vôi hóa dây chằng dọc trước và mô liên kết quanh đốt sống là cơ chế cốt lõi dẫn đến sự hình thành cầu xương.
+ Cầu xương trong viêm cột sống dính khớp mang đặc tính là cầu xương bờ, phát triển theo phương thẳng đứng nối liền góc vỏ xương của hai đốt sống kề cận qua khoảng đĩa đệm.
+ Phân biệt cầu xương bờ hướng dọc đặc trưng của bệnh với các cầu xương thô lớn, nằm xa bờ mặt khớp gặp trong bệnh lý viêm khớp vảy nến hoặc bệnh quá xương lan tỏa vô căn.
+ Tiến triển vôi hóa và tạo cầu xương liên tục qua nhiều phân đoạn đĩa đệm kết hợp vôi hóa dây chằng cạnh sống dẫn đến hình thái cột sống cây tre điển hình ở giai đoạn muộn.
+ Quá trình vôi hóa dây chằng quanh cột sống kết hợp các cầu xương bờ phát triển liên tục qua tất cả các tầng đĩa đệm tạo nên hình ảnh cột sống cây tre điển hình trên phim X-quang.
+ Vôi hóa hệ thống dây chằng trên gai và dây chằng liên gai ở đường giữa tạo nên dải tăng đậm độ chạy dọc theo trục dọc cột sống trên phim X-quang thẳng, hình thành dấu hiệu dao găm; tỷ lệ xuất hiện ghi nhận khoảng 28% ở bệnh nhân mắc bệnh trên 30 năm và tăng lên 43% ở bệnh nhân trên 40 năm.
+ Sự kết hợp giữa vôi hóa dây chằng liên gai ở đường giữa và vôi hóa bao khớp diện khớp hai bên tạo nên dấu hiệu đường ray xe lửa trên phim X-quang tư thế thẳng.
+ Tình trạng dính khớp xương toàn bộ làm cột sống mất hoàn toàn tính đàn hồi, biến thành một cấu trúc xương dài cứng dòn; kết hợp với tình trạng loãng xương thứ phát nặng làm gia tăng nguy cơ gãy đứt đoạn cột sống ngay cả sau chấn thương năng lượng thấp.
+ Gãy xương ở cột sống dính khớp mang tính chất nguy hiểm cao do hiện tượng mất vững trầm trọng, di lệch thứ phát cao và nguy cơ chèn ép tủy sống bộc phát, thường tập trung tại các vùng chuyển tiếp giải phẫu như cổ – ngực hoặc ngực – thắt lưng.
+ Còn được gọi là bệnh Forestier, đặc trưng bởi sự quá xương và vôi hóa dải rộng tại các vị trí điểm bám của gân, dây chằng và bao khớp.
+ Bệnh ưu thế ở nam giới lớn tuổi, độ tuổi khởi phát phổ biến từ 60 đến 70 tuổi, rất hiếm khi gặp trước 50 tuổi.
+ Tiêu chuẩn hình ảnh học Resnick ghi nhận tổn thương vôi hóa, tạo cầu xương thô lớn dạng sáp nến chảy ở bờ trước-bên của ít nhất 4 thân đốt sống liên tiếp, ưu thế tại cột sống ngực đoạn giữa và dưới.
+ Chiều cao khoảng đĩa đệm tại đoạn tổn thương được bảo tồn tương đối, hoàn toàn không có tình trạng dính khớp liên mấu, dính khớp sườn – sống hay dính khớp diện khớp.
+ Khớp cùng chậu trong DISH có thể xuất hiện các cầu xương nhỏ dạng chồi ở bờ trước ngoài khớp, nhưng không bao giờ ghi nhận tổn thương bào mòn vỏ xương, đặc xương dưới sụn hay dính khe khớp nội khớp.
+ Phân biệt then chốt với viêm cột sống dính khớp: cầu xương trong viêm cột sống dính khớp là cầu xương bờ mảnh mọc theo hướng thẳng đứng, kèm viêm khớp cùng chậu thực sự với bào mòn vỏ xương, phù tủy xương dưới sụn và dính nội khớp toàn phần.* Tiêu chuẩn chẩn đoán
+ Tiêu chuẩn X-quang quy ước đòi hỏi sự hiện diện bắt buộc của viêm khớp cùng chậu từ độ 2 trở lên ở hai bên hoặc từ độ 3 đến độ 4 ở một bên.
+ Chẩn đoán xác định đòi hỏi bắt buộc sự hiện diện của tiêu chuẩn X-quang quy ước kết hợp với ít nhất 01 tiêu chuẩn lâm sàng.
+ Hạn chế then chốt của tiêu chuẩn New York sửa đổi là chỉ áp dụng hiệu quả ở giai đoạn thể trục toàn phát, không thể chẩn đoán ở giai đoạn sớm do tổn thương viêm khớp cùng chậu trên X-quang quy ước thường xuất hiện muộn hơn từ 3 đến 9 năm so với triệu chứng lâm sàng khởi phát.
+ Tiêu chuẩn của Hội Đánh giá Viêm cột sống dính khớp Quốc tế định hướng chẩn đoán sớm bệnh lý khớp cột sống thể trục giai đoạn chưa có biến đổi trên X-quang quy ước.
+ Nhánh hình ảnh học đòi hỏi bằng chứng viêm khớp cùng chậu hoạt tính trên MRI (hình ảnh phù tủy xương dưới sụn quanh diện khớp trên chuỗi xung STIR hoặc T2 xóa mỡ) hoặc viêm khớp cùng chậu rõ trên X-quang, kết hợp với ít nhất 01 đặc điểm bệnh lý khớp cột sống.
+ Nhánh lâm sàng và di truyền đòi hỏi xét nghiệm kháng nguyên HLA-B27 dương tính, kết hợp với ít nhất 02 đặc điểm bệnh lý khớp cột sống.
+ MRI đóng vai trò phương tiện hàng đầu có độ nhạy cao nhất trong việc phát hiện tổn thương viêm khớp cùng chậu hoạt tính giai đoạn sớm, bộc lộ trực tiếp hiện tượng thâm nhiễm viêm và phù tủy xương dưới sụn trước khi xuất hiện bào mòn hay dính khớp trên X-quang quy ước.II. Chẩn đoán MRI
* Viêm khớp cùng chậu
– Vùng phù tủy xương phải xuất hiện ở ít nhất 02 vị trí trên cùng 01 lát cắt hoặc ở 01 vị trí trên ít nhất 02 lát cắt liên tiếp mới đủ tiêu chuẩn định danh viêm khớp cùng chậu hoạt tính trên MRI theo định nghĩa của ASAS.
– Các biểu hiện viêm hoạt tính phối hợp bao gồm viêm điểm bám dây chằng (tăng tín hiệu trên STIR tại vùng dây chằng gian xương và dây chằng cùng chậu sau), viêm bao khớp, viêm màng bao hoạt dịch và ngấm thuốc đối quang từ tăng cường trên chuỗi xung T1 xóa mỡ sau tiêm.
– Các tổn thương cấu trúc mạn tính ghi nhận trên MRI bao gồm sự lắng đọng mỡ tủy xương dưới sụn (tăng tín hiệu trên T1W tại vùng sẹo viêm cũ), bào mòn vỏ xương dưới sụn, xơ hóa xương dưới sụn (giảm tín hiệu trên cả T1W và T2W/STIR) và dính khớp xương.* Viêm đốt sống Romanus
– Tiêu chuẩn chẩn đoán định hướng theo khuyến cáo của ASAS đòi hỏi sự hiện diện của ít nhất 03 tổn thương góc đốt sống hoạt tính trên toàn bộ cột sống mới đủ giá trị gợi ý và có độ đặc hiệu cao cho bệnh lý khớp cột sống thể trục.
– Biểu hiện của tổn thương mạn tính tiến triển (sẹo mỡ góc đốt sống) là sự thay thế tủy xương viêm bằng tổ chức mỡ, ghi nhận vùng tăng tín hiệu trên chuỗi xung T1W và T2W, đồng thời mất tín hiệu trên chuỗi xung xóa mỡ STIR.
– Giá trị chẩn đoán sớm: tổn thương Romanus trên MRI bộc lộ tình trạng viêm điểm bám gân tại vị trí tiếp giáp giữa vòng xơ đĩa đệm và vỏ xương góc thân đốt sống ở giai đoạn tiền X-quang, trước khi xuất hiện hình ảnh đốt sống vuông hay dấu hiệu góc sáng trên X-quang quy ước.* Viêm đốt sống Andersson
– Yếu tố lịch sử và bản chất y học: tổn thương được bác sĩ chẩn đoán hình ảnh Olof Andersson mô tả lần đầu vào năm 1937 tại Stockholm; bản chất là tình trạng viêm đĩa đệm – đốt sống vô trùng hoặc hình thành khớp giả do tổn thương sinh cơ học trên cột sống dính cứng.
– Chẩn đoán phân biệt với biến đổi thoái hóa mâm đốt sống Modic 1: tổn thương Modic 1 thường tạo dải phù dải hẹp song song dưới mâm sụn, không gây bào mòn khuyết xương diện rộng mâm đốt sống và không đi kèm dấu hiệu vôi hóa dây chằng hay dính khớp.
– Chẩn đoán phân biệt với viêm đĩa đệm – đốt sống nhiễm trùng: tổn thương nhiễm trùng thường gây phá hủy diện rộng cấu trúc đĩa đệm và mâm sụn, tụ mủ ngoài màng cứng hoặc phần mềm cạnh sống, kết hợp biểu hiện lâm sàng hội chứng nhiễm trùng toàn thân.III. Nguyên tắc điều trị
+ Phối hợp chặt chẽ giữa các biện pháp phi dược lý bao gồm giáo dục bệnh nhân, tập phục hồi chức năng, vật lý trị liệu duy trì tư thế cột sống và điều trị nội khoa chuyên sâu.
+ Mục tiêu cốt lõi nhằm kiểm soát tối đa phản ứng viêm mạn tính, giảm đau cứng khớp, duy trì biên độ vận động, ngăn ngừa tiến triển biến đổi cấu trúc và hạn chế nguy cơ tàn phế.
+ Thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs) đóng vai trò điều trị lựa chọn hàng đầu ngay ở giai đoạn sớm cho các trường hợp đau và cứng khớp cột sống kiểu viêm.
+ Thuốc điều trị bản chất bệnh sinh học (bDMARDs) bao gồm nhóm ức chế TNF và nhóm ức chế IL-17, hoặc thuốc sinh học tổng hợp nhắm đích (tsDMARDs) như nhóm ức chế JAK được chỉ định khi bệnh nhân đáp ứng kém hoặc thất bại với điều trị NSAIDs chuẩn.
+ Thuốc điều trị bản chất bệnh kinh điển như sulfasalazine chỉ mang lại hiệu quả đối với các trường hợp có tổn thương khớp ngoại biên phối hợp, không có chỉ định cho tổn thương cột sống và khớp cùng chậu đơn thuần.
+ MRI là phương tiện then chốt để xác định sự hiện diện của tổn thương viêm hoạt tính qua hình ảnh phù tủy xương trên chuỗi xung STIR, đóng vai trò tiêu chuẩn vàng cung cấp bằng chứng cho chỉ định khởi đầu điều trị bằng thuốc sinh học.
+ Đánh giá hiệu quả đáp ứng điều trị nội khoa thông qua mức độ thoái triển hoặc biến mất của vùng phù tủy xương trên MRI sau các khoảng thời gian theo dõi định kỳ.
+ Đánh giá tiến triển biến đổi cấu trúc mạn tính và sự xuất hiện của các cầu xương mới thông qua phim X-quang quy ước cột sống định kỳ mỗi 2 năm, áp dụng hệ thống thang điểm mSASSS.
+ Phẫu thuật thay khớp háng toàn phần được chỉ định bắt buộc ở các trường hợp tổn thương khớp háng tiến triển nặng gây đau kéo dài, hẹp khe khớp nặng hoặc dính khớp háng ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng vận động.
+ Phẫu thuật đục xương sửa trục cột sống được cân nhắc chỉ định ở những bệnh nhân có biến dạng gù nặng cột sống ngực – thắt lưng gây mất cân bằng trọng tâm cơ thể hoặc hạn chế tầm nhìn ngang nghiêm trọng.
Tài liệu tham khảo
* CT and MRI of Spine and Sacroiliac Involvement in Spondyloarthropathy – Alexis Lacout, Benoit Rousselin and Jean-Pierre Pelage
* Adult Inflammatory Arthritides: What the Radiologist Should Know – Eric Y. Chang
* Imaging in ankylosing spondylitis – Mikkel Østergaard
* Role for imaging studies in ankylosing spondylitis – Isabelle Chary-Valckenaere
* Imaging study scores for ankylosing spondylitis – Daniel Wendling
* Ankylosing Spondylitis: Patterns of Radiographic Involvement—A Re-examination of Accepted Principles in a Cohort of 769 Patients – Jennifer H. Jang, Michael M. Ward, Adam N. Rucker
* BASRI CALCULATOR – The Bath Ankylosing Spondylitis Radiology Index – MacKay K. Arthritis Rheum
* Imaging features of vertebral fractures in ankylosing spondylitis – A. Leone, F. Tamburrelli, P. Colelli, C. Dell’atti; Rome/IT
* Cornered! A pictorial review of the radiological features in Ankylosing Spondylitis – L. Sammut
* Andersson lesions of the spine in ankylosing spondylitis – K. GOUIAA
* Spinal fractures in patients with ankylosing spondylitis – M. Marino
* Diagnostic Imaging: Musculoskeletal Non-Traumatic Disease, 3e (2022) – Davis, Blankenbaker, Bernard
* Axial skeleton imaging in Ankylosing Spondylitis (AS) – R. R. Bazeli
* Radiological Manifestations of Ankylosing spondylitis – S. Aggarwal, R. E. Ibrahem Adam; Nottingham/UK
* Defining active sacroiliitis on MRI for classification of axial spondyloarthritis: update by the ASAS MRI working group – Robert G W Lambert





# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 3/10/2026
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 8/1/2025