I. Sinh thiết gan
1. Đại cương
– Gan là một trong những tạng lớn nhất trong cơ thể và cũng là tạng thường có bệnh lý nhiều nhất. Bệnh lý gan rất đa dạng và phức tạp, mặc dù hiện nay các phương pháp chẩn đoán hình ảnh đã có nhiều tiến bộ vượt bậc nhưng không phải lúc nào cũng có thể chẩn đoán được bản chất tổn thương, khi đó sinh thiết gan là một lựa chọn nhằm tiếp cận với chẩn đoán.
– Có nhiều kỹ thuật sinh thiết gan khác nhau như: sinh thiết qua tĩnh mạch cảnh trong, sinh thiết dưới hướng dấn siêu âm, CT Scanner, sinh thiết tức thì trong phẫu thuật….nhưng trong đó sinh thiết gan dưới hướng dẫn siêu âm là kỹ thuật phổ biến, được áp dụng nhiều nhất. Nguyên nhân do tính xâm nhập tối thiểu, chi phí thấp và đặc biệt, gan là tạng di động theo nhịp thở do vậy sử dụng siêu âm là kỹ thuật dẫn đường sẽ đảo bảo tính thời gian thực.
  NỘI DUNG WEB
» 422 Bài giảng chẩn đoán hình ảnh
» X-quang / Siêu âm / CT Scan / MRI
» 25.000 Hình ảnh case lâm sàng
  ĐỐI TƯỢNG
» Kỹ thuật viên CĐHA
» Sinh viên Y đa khoa
» Bác sĩ khối lâm sàng
» Bác sĩ chuyên khoa CĐHA
  Nội dung Bài giảng & Case lâm sàng thường xuyên được cập nhật !
  Đăng nhập Tài khoản để xem Nội dung Bài giảng & Case lâm sàng !!!
– Xác định tính chất và mức độ bệnh của tổn thương gan lan tỏa: xơ gan, gan nhiễm mỡ liên quan rối loạn chuyển hóa, xơ gan mật nguyên phát, xét nghiệm chức năng gan bất thường không rõ nguyên nhân, đánh giá thải ghép gan, tích tụ đồng (bệnh Wilson) hoặc sắt. – Người bệnh không hợp tác: không đồng ý làm sinh thiết, trẻ nhỏ, tâm thần, hôn mê. – Máy siêu âm 2 loại đầu dò: Convex và Line. – Xét nghiệm công thức máu, đông máu cơ bản và các xét nghiệm khác. – Đặt bệnh nhân nằm ở tư thế thuận lợi cho quá trình sinh thiết: nằm ngửa, nghiêng hoặc nằm nghiêng hoàn toàn sang trái là những tư thế có thể áp dụng cho bệnh nhân – điều quan trọng là phải đảm bảo rằng bệnh nhân cảm thấy thoải mái và có thể giữ nguyên tư thế đó trong quá trình sinh thiết. – Xác định tổn thương, hướng kim sinh thiết và khoảng cách từ mặt da tới tổn thương. – Gây tê tới sát bao gan dưới hướng dẫn siêu âm. – Rút kim dẫn => đưa kim sinh thiết qua trocate vào tiếp cận tổn thương. – Tiến hành lấy mẫu bệnh phẩm. Dùng gạc vô khuẩn lau sạch mũi kim sinh thiết sau mỗi lần lấy 1 mẫu bệnh phẩm. – Cố định bệnh phẩm vào ống nghiệm chứa dung dịch formalin 10%. – Nên nghỉ ngơi tại giường 3-8 tiếng. => Case lâm sàng 1 => Case lâm sàng 2 => Case lâm sàng 3 => Case lâm sàng 4 => Case lâm sàng 5 – Xuyên kim sinh thiết qua bề mặt của các tạng đặc và thành ruột theo hướng vuông góc nhất có thể => điều này đặc biệt hữu ích giúp ngăn ngừa rách bao gan và lách. – Việc lựa chọn kim sinh thiết phù hợp là rất quan trọng đối với sự thành công của sinh thiết. – Việc lập kế hoạch cho một thủ thuật sinh thiết an toàn bắt đầu bằng việc xem xét kỹ lưỡng hình ảnh CT hoặc MR để xác định đường đi của kim an toàn nhất đến các tổn thương trong khi tránh các cơ quan quan trọng trong ổ bụng và các mạch máu lớn. – Đối với sinh thiết gan, cả hai phương pháp tiếp cận dưới bờ sườn và liên sườn đều được sử dụng với bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa. – Sinh thiết túi mật qua da hiếm khi được thực hiện do các biến chứng tiềm ẩn như viêm phúc mạc mật hoặc chảy máu đường mật. Tuy nhiên, sinh thiết đối với các tổn thương túi mật đã được chứng minh là có độ chính xác cao, an toàn và hiệu quả về chi phí. – Tuyến tụy là cơ quan khó thực hiện nhất đối với sinh thiết tạng đặc ổ bụng vì đây là cơ quan nằm sâu sau phúc mạc và được bao quanh bởi hệ thống mạch máu dày đặc và tạng khác trong ổ bụng. – Sinh thiết lõi qua da dưới hướng dẫn siêu âm ở lách thường bị tránh do lo ngại nguy cơ cao chảy máu sau thủ thuật. – Sinh thiết thận thường được chỉ định nhằm xác định nguyên nhân của bệnh lý nhu mô thận và phân biệt giữa ung thư biểu mô tế bào thận với các khối u thận khác. – Trong sinh thiết lõi qua da dưới hướng dẫn siêu âm đối với tuyến thượng thận, các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc lựa chọn đường đi an toàn bao gồm bên tổn thương (phải hoặc trái) và kích thước của tổn thương. – Sinh thiết các tổn thương ở đường tiêu hóa thường được thực hiện dưới nội soi, nhưng sinh thiết ruột qua da đôi khi được thực hiện khi tổn thương nằm dưới niêm mạc hoặc ở hỗng tràng và hồi tràng. – Sinh thiết lõi qua da dưới hướng dẫn siêu âm có thể được thực hiện hiệu quả đối với cả các hạch nông và sâu, với kích thước nhỏ đến 1 cm. => Case lâm sàng 1: – Sinh thiết mạc nối và phúc mạc là phương pháp an toàn và khả thi để chẩn đoán bệnh mạc nối và phúc mạc. Trong trạng thái bình thường, mạc nối và phúc mạc không thể quan sát được trên hình ảnh siêu âm. Tuy nhiên, các tổn thương như di căn phúc mạc hoặc lao phúc mạc có thể được phát hiện bằng siêu âm, đặc biệt khi có dịch cổ trướng. Mạc nối và phúc mạc thường biểu hiện dày không đều, dạng nốt với độ tăng âm và thường bị xâm nhập bởi các nốt giảm âm. => Case lâm sàng 1: – Mặc dù sinh thiết lõi qua da dưới hướng dẫn siêu âm ở các tạng bụng được xem là an toàn, vẫn có thể xảy ra một số biến chứng như: đau, chảy máu, tổn thương tạng ngoài ý muốn và gieo rắc tế bào u dọc theo đường đi của kim sinh thiết.2. Chỉ định
– Chẩn đoán xác định tổn thương gan khu trú: tổn thương lành tính, ác tính, di căn chưa rõ nguyên phát.
– Phân loại giai đoạn bệnh tổn thương ác tính.3. Chống chỉ định
– Nguy cơ chảy máu: khi tiểu cầu < 60.000/mm3 hoặc tỉ lệ prothrombin < 60%.
– Bệnh lý toàn thân, rối loạn hô hấp, tim mạch.
– Tổn thương quá nhỏ, nằm ở vị trí không tiếp cận được, quá gần tim và túi mật.
– Chống chỉ định tương đối: bệnh bột gan, gan tim, cổ trướng.
– Bệnh nang gan, ổ nhiễm trùng có thể gây lan tỏa vi trùng khi sinh thiết.
– Tắc mật gây giãn đường mật.4. Phương tiện
– Kim sinh thiết lõi 16-18 Gauge
– Lưỡi dao rạch da.
– Găng, gạc vô khuẩn, băng Urgo, dụng cụ sát khuẩn.
– Lidocain 1-2%, bơm kim tiêm 5-10ml
– Ống nghiệm chứa formalin 10% để chứa bệnh phẩm.
– Hộp thuốc chống sốc và dụng cụ xử trí tai biến.5. Chuẩn bị bệnh nhân
– Tổng hợp tất cả các kết quả chẩn đoán hình ảnh đã có.
– Giải thích cho bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về kỹ thuật và các tai biến có thể xảy ra.
– Đặc đường truyền tĩnh mạch.
– Ký cam kết chấp nhật làm thủ thuật.6. Tiến hành thủ thuật
– Đánh giá đường vào: tránh các tạng, cấu trúc thần kinh và mạch máu, đi qua phần nhu mô gan lành để tiếp cận tổn thương.
– Đánh giá xem liệu thủ thuật có được thực hiện khi nín thở hay không và hướng dẫn thực hành điều này với bệnh nhân.
– Đánh dấu điểm chọc kim trên da.
– Sát khuẩn bề mặt da, trải săng vô khuẩn.
– Gây tê tại chỗ bằng Lidocain 2%.
– Dùng mũi dao mổ rạch da 2mm, thường là lưỡi dao số 11.
– Xuyên trocate + kim dẫn qua vết rạch da.
– Xuyên trocate + kim dẫn dưới hướng dẫn siêu âm qua bao gan => tới cạnh bờ tổn thương.
– Đẩy đầu kim sinh thiết vào trong tổn thương => Kiểm tra siêu âm thấy kim nằm trong tổn thương.
– Kết thúc thủ thuật: rút kim sinh thiết và trocate ở lần cắt bệnh phẩm cuối cùng. Dán băng vô khuẩn lên vị trí chọc kim.
– Nén bằng tay là phương pháp chính để cầm máu. Có thể đặt miếng gelfoam dọc theo đường kim để tạo rào cản cơ học và thúc đẩy kết tập tiểu cầu. Miếng gelfoam sẽ được hấp thu trong vòng 4-6 tuần.
– Kiểm tra siêu âm qua vị trí sinh thiết để loại trừ các biến chứng.7. Theo dõi sau sinh thiết
– Theo dõi thường xuyên (mạch, huyết áp và SpO2 ở những người đang dùng thuốc an thần) tùy thuộc vào các yếu tố nguy cơ.
– Chủ động hỏi bệnh nhân về bất kỳ cơn đau nào và kiểm tra vị trí sinh thiết để xem có chảy máu không 30 phút/lần.
– Theo dõi dấu hiệu sinh tồn 15 phút/lần trong 1 tiếng và 30 phút/lần trong 2 tiếng tiếp theo.
– Kiểm soát đau bằng thuốc giảm đau đường uống.
– Theo dõi biến chứng:
+ Đau: là biến chứng thường gặp nhất. Thường đau mức độ nhẹ và trung bình, trong thời gian ngắn. Đau thường đáp ứng với thuốc giảm đau thông thường. Những bệnh nhân đau liên tục, mức độ nhiều là dấu hiệu cảnh báo 1 tai biến nguy hiểm hơn như chảy máu hoặc viêm phúc mạc.
+ Chảy máu: xuất huyết nặng ~ 1%. Biểu hiện tràn máu phúc mạc, tụ máu dưới bao hoặc tụ máu trong gan. Chảy máu hiếm khi cần điều trị, mặc dù có thể chỉ định truyền máu và can thiệp phẫu thuật ở những bệnh nhân nặng.
+ Nhiễm khuẩn (0.1%): từ nhiễm trùng tại chỗ nhỏ đến nhiễm khuẩn huyết và nhiễm trùng huyết. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tắc mật, dụng cụ thông mật trước đó và tình trạng suy giảm miễn dịch. Có thể sử dụng kháng sinh dự phòng.
+ Chảy máu đường mật (0,01%): biểu hiện là chảy máu đường tiêu hóa trên chậm (vài ngày đến vài tuần), thường kèm theo đau hạ sườn phải và vàng da (tam chứng Quincke). Việc điều trị phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng, các trường hợp nhẹ thường tự khỏi, tuy nhiên có thể cần phải điều trị nội soi, nội mạch hoặc phẫu thuật.
+ Viêm phúc mạc mật: thường xảy ra ở những trường hợp có tắc mật hoặc tổn thương thủng túi mật. Bệnh nhân thường có biểu hiện đau bụng dữ dội và tụt huyết áp phản ứng ngay sau sinh thiết.
+ Tràn khí màng phổi (<1%): các yếu tố rủi ro bao gồm tiếp cận liên sườn cao, hít sâu khi đưa kim vào và đưa kim vào nhiều lần.8. Case lâm sàng
II. Sinh thiết tạng ổ bụng
* Nguyên tắc chung
– Xuyên kim vào nhanh và mạnh, dứt khoát để có thể chọc thủng các cấu trúc linh hoạt và di động như thành ruột và túi mật.
– Khi tiếp cận tổn thương, kim phải được điều chỉnh lại để đảm bảo độ nghiêng và vị trí thích hợp.
+ Đối với các tổn thương lớn hơn, nên lấy mẫu bệnh phẩm ở phần bên ngoài của tổn thương vì phần trung tâm thường bị hoại tử hoặc thoái hoá nang.
+ Với tổn thương có đường kính nhỏ < 2cm, nên lấy mẫu mô từ trung tâm của tổn thương.
– Ngay sau khi lấy mô, cần thực hiện siêu âm Doppler màu cẩn thận để kiểm tra xem có chảy máu đáng kể sau sinh thiết hay không. Dấu hiệu dòng màu dạng vệt dọc theo đường đi của kim gợi ý khả năng chảy máu đáng kể sau sinh thiết, đặc biệt nếu tình trạng này kéo dài sau 5 phút thực hiện sinh thiết.* Kim sinh thiết
– Kim được chia thành 3 loại: kim hút, kim cắt và kim cắt lò xo. Chúng khác nhau tùy theo đường kính ngoài, khẩu kính nòng, chiều dài, thiết kế riêng biệt như loại có lõi trong, loại có nòng bên ngoài, loại có rãnh…
– Kim hút dựa trên nguyên lý áp lực âm của chân không để lấy mẫu. Kim gồm 1 lõi đặc bên trong và 1 nòng bên ngoài. Khi kim tiếp cận tổn thương cần lấy mẫu, lõi bên trong được kéo lùi lại để tạo 1 áp lực âm để hút lấy mẫu vào trong nòng kim. Ưu điểm so với kim cắt là cùng kích thước như nhau nhưng lấy được cột mô có kích thước lớn hơn. Tuy nhiên nhược điểm là không giữ được cột mô trong quá trình rút kim ra.
– Hầu hết các sinh thiết được thực hiện nhiều lần bằng cách thực hiện nhiều lần chọc vào tổn thương đích. Kỹ thuật sinh thiết đồng trục được đề xuất là một phương pháp hữu ích để lấy nhiều mẫu mà không cần phải chọc thủng lại bao của cơ quan đích. Mặc dù kỹ thuật này được kỳ vọng sẽ làm giảm nguy cơ chảy máu và thời gian để hoàn thành nhiều lần sinh thiết, nhưng nó lại có nguy cơ làm rách các cơ quan đích cao hơn do thời gian lưu trú lâu hơn đối với kim đồng trục lớn hơn. Trong khi đó, các kỹ thuật không đồng trục có thời gian lưu lại ngắn hơn đối với các kim sinh thiết nhỏ hơn trong các cơ quan đích. Các nghiên cứu trước đây không tìm thấy sự khác biệt đáng kể nào về tỷ lệ biến chứng giữa hai kỹ thuật.
– Các cơ chế cắt bệnh phẩm khác nhau bao gồm kim cắt đầu và kim cắt bên. Kim cắt bên thường có tác dụng tốt nhất với các khối mô mềm, trong khi kim cắt đầu có tác dụng tốt với các tổn thương rắn hơn.
– Một trong những loại kim được sử dụng phổ biến nhất cho sinh thiết lõi hiện nay là kim Tru-Cut (Merit Medical Systems). Nó là một kim cắt bên bao gồm một ống cắt bên ngoài và một lõi kim có rãnh bên trong. Sau khi đưa đầu kim tiếp cận mô cần lấy mẫu, lõi kim có rãnh bên trong được đưa vào phần mô, sau đó phần ống cắt bên ngoài có nhiệm vụ cắt rời mẫu mô đã nằm trong phần rãnh của lõi kim và giữ cột mô đó lại bên trong kim, động tác cắt đứt này được thực hiện khi ống cắt bên ngoài di chuyển ra trước rất nhanh, thông thường chiều dài rãnh bên của lõi kim từ 9-17m. Kim có thể thiết kế dạng thủ công, bán tự động hoặc tự động hoàn toàn.
– Hiện nay, hầu hết việc sinh thiết được thực hiện bằng các thiết bị sinh thiết tự động hoặc bán tự động được gọi là “súng sinh thiết” với kỹ thuật đồng trục bao gồm việc đặt kim dẫn vào vị trí sinh thiết và đưa kim sinh thiết đi qua để lấy mẫu với số lần cần thiết, qua đó giảm được số lần phải đâm kim nhiều lần.
– Kích thước kim có liên quan trực tiếp đến lượng mô đích cần lấy. Kim có thể được phân loại thành hai loại: cỡ nhỏ (20-gauge hoặc nhỏ hơn) và cỡ lớn (19-gauge hoặc lớn hơn).
– Chiều dài kim nên được lựa chọn dựa trên khoảng cách từ tổn thương đích đến da dọc theo đường sinh thiết dự kiến, vì kim dài rất khó kiểm soát trong quá trình sinh thiết.
* Lập kế hoạch
– Tính khả thi của hướng đi kim sinh thiết dự kiến được xác định bằng hình ảnh CT hoặc MRI phải được xác nhận bằng siêu âm trước khi sinh thiết. Nếu đường đi sinh thiết được xác định bằng hình ảnh CT hoặc MRI không thể được xác định bằng siêu âm, nên tìm kiếm một đường đi an toàn thay thế từ hình ảnh siêu âm.
– Các mạch máu được quan sát càng ít quan trọng dọc theo đường đi sinh thiết thì đường đi càng an toàn; nếu các cấu trúc mạch máu lớn nằm trên đường đi sinh thiết khả năng chảy máu do tổn thương mạch máu là rất cao. Siêu âm Doppler màu có thể được sử dụng để xác định các mạch máu quan trọng xung quanh các cơ quan chính trong ổ bụng và lập kế hoạch đường đi sinh thiết tránh xa chúng.
– Đôi khi, các tổn thương không được phát hiện trên hình ảnh siêu âm do độ phản âm hoặc do sự hiện diện của nhiều mỡ bụng hoặc khí trong ruột hoặc phổi. Hơn nữa, vị trí của các tổn thương và các cơ quan xung quanh được xác định bằng hình ảnh CT hoặc MRI có thể hơi khác nhau trên hình ảnh siêu âm do độ di động của các cơ quan trong bụng, chuyển động hô hấp và tư thế của bệnh nhân; trong trường hợp này, tư thế và nhịp thở của bệnh nhân cần được thay đổi để xác định tổn thương.* Sinh thiết gan
– Trong bệnh gan lan tỏa, đường tiếp cận dưới bờ sườn tới thùy gan trái ở vùng giữa thượng vị thường được ưu tiên hơn đường tiếp cận liên sườn để giảm thiểu nguy cơ tổn thương mạch máu liên sườn và đau. Khi không thể tiếp cận đường dưới bờ sườn do thùy gan trái quá nhỏ, có thể sử dụng đường liên sườn hướng tới phân thùy 5.
– Đối với tổn thương gan khu trú, đường tiếp cận phải được xác định tùy theo vị trí của tổn thương trong gan. Nếu tổn thương nằm ở phần dưới của thùy đuôi hoặc các phân thuỳ 4, 6, 7, 8 thì nên áp dụng phương pháp đi theo đường liên sườn. Nên sử dụng phương pháp tiếp cận đường dưới bờ sườn khi tổn thương nằm ở phần trên của thuỳ đuôi hoặc phân thuỳ 2, 3, 5.
– Nếu tổn thương nằm ở gần vòm hoành, có thể đặt bệnh nhân ở tư thế nghiêng trái cho phép quan sát và tiếp cận tổn thương dễ hơn.
– Sự hiện diện của dịch cổ trướng không phải là chống chỉ định cho sinh thiết gan và việc dẫn lưu dịch cổ trướng nên được xem xét trước khi thực hiện thủ thuật trong những trường hợp cổ trướng lớn.
– Để giảm thiểu chảy máu, biến chứng thường gặp nhất của sinh thiết, quỹ đạo của kim nên đi qua càng nhiều nhu mô gan lành càng tốt trước khi đi vào tổn thương và tránh không đi qua các mạch máu lớn của gan.* Sinh thiết túi mật
– Dạng khối khu trú dễ sinh thiết hơn dạng thành túi mật dày.
– Trong hầu hết các trường hợp, phương pháp xuyên gan được ưu tiên hơn so với phương pháp xuyên thành bụng để tránh rò rỉ dịch mật.
– Nên xuyên kim vuông góc qua thành túi mật để giảm nguy cơ thủng và rò dịch mật.
– Nếu áp dụng phương pháp tiếp cận xuyên thành bụng, xuyên kim nhanh và dứt khoát qua thành túi mật do tính di động và đàn hồi của túi mật => tránh nguy cơ tổn thương thành túi mật.* Sinh thiết tuỵ
– Tuy nhiên, tỷ lệ biến chứng được ghi nhận là thấp. Trong một số trường hợp, việc xuyên qua các tạng lân cận như dạ dày, ruột non, gan và lách là không thể tránh khỏi. Dù vậy, không khuyến cáo thực hiện sinh thiết đi qua đại tràng do nguy cơ gây viêm phúc mạc.
– Doppler màu rất hữu ích trong việc xác định các mạch cần tránh trong quá trình sinh thiết.
– Nếu tổn thương nằm ở đầu, cổ, thân của tụy, nên tiếp cận qua đường bụng qua mạc nối hoặc dạ dày.
– Nếu đại tràng hoặc mạch máu nhiều che phủ trước tổn thương ở đuôi tụy, có thể sử dụng đường tiếp cận liên sườn trái qua lá lách hoặc đường tiếp cận sau bên qua thận.* Sinh thiết lách
– Cách tiếp cận liên sườn trái thường được áp dụng với tư thế nằm ngửa. Ngoài ra, có thể sử dụng tư thế nghiêng phải tùy thuộc vào vị trí tổn thương.
– Kỹ thuật giảm thiểu nguy cơ xuất huyết:
+ Ưu tiên chọn 1 tổn thương nằm ở ngoại vi để sinh thiết thay vì tổn thương nằm sâu nếu có nhiều tổn thương.
+ Chọn đường sinh thiết ngắn nhất để đi qua càng ít nhu mô lách bình thường càng tốt, không giống như sinh thiết gan, bởi nhu mô lách bình thường bị tổn thương có xu hướng làm tăng nguy cơ chảy máu hơn là tác dụng chèn ép cầm máu như trong sinh thiết gan.
+ Thực hiệ quy trình xuyên kim và lấy mẫu trong khi nín thở hoặc bệnh nhân thở nông => tránh nguy cơ tổn thương lách.
+ Hạn chế số lần xuyên kim.* Sinh thiết thận
– Để lấy đủ mô vỏ thận chứa cầu thận để chẩn đoán bệnh lý nhu mô, phương pháp tiếp cận sau bên vào cực dưới của thận thường được sử dụng với bệnh nhân tư thế nằm sấp.
– Các yếu tố cần được xem xét khi lựa chọn đường đi an toàn bao gồm vị trí tổn thương, kích thước tổn thương và thể trạng của bệnh nhân.
+ Nếu tổn thương nằm ở mặt ngoài hoặc mặt sau của thận, nên sử dụng phương pháp tiếp cận theo đường liên sườn sau bên với bệnh nhân ở tư thế nằm sấp.
+ Nếu tổn thương ở mặt trong hoặc mặt trước của thận, phương pháp tiếp cận liên sườn xuyên gan hoặc xuyên lách ở tư thế nằm ngửa.* Sinh thiết thượng thận
– Nếu tổn thương ở tuyến thượng thận phải, nên thực hiện phương pháp tiếp cận xuyên gan với bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa hoặc nghiêng trái. Gan có thể đóng vai trò như một “cửa sổ âm” thuận lợi giúp quan sát tổn thương rõ hơn.
– Nếu tổn thương nằm ở tuyến thượng thận trái, có thể áp dụng phương pháp tiếp cận xuyên bụng hoặc đường sau lưng với bệnh nhân ở tư thế nằm ngửa hoặc nằm sấp.
– Thường chống chỉ định trong trường hợp u tế bào ưa crom, khi thực hiện sinh thiết ở bệnh nhân nghi ngờ u tế bào ưa crom, nên điều trị trước bằng thuốc chẹn a-adrenergic để tránh cơn tăng huyết áp và chảy máu.* Sinh thiết ống tiêu hoá
– Vị trí của khối u ruột được xác định qua siêu âm, CT và MRI có thể thay đổi nhẹ do tính di động của ruột. Các khối u nhỏ ở đường tiêu hóa rất khó phát hiện vì ruột di động mà còn do khí trong lòng ruột và lớp mỡ thành bụng tăng âm.
– Khi thực hiện sinh thiết đường tiêu hóa qua phương pháp xuyên thành bụng, kỹ thuật nén đầu dò từng mức (đè ép nhẹ đầu dò và từ từ) giúp mang lại nhiều lợi ích. Kỹ thuật này giúp đẩy các quai ruột bình thường chứa đầy khí ra khỏi vùng khảo sát, cố định khối u và rút ngắn khoảng cách từ da tới tổn thương.* Sinh thiết hạch
– Khảo sát Doppler màu giúp phân định ranh giới các mạch lân cận và do đó tránh tổn thương mạch máu.
– Phần lớn các hạch bạch huyết xuất hiện dưới dạng tổn thương giảm âm trên nền tăng âm của mỡ bụng và ruột. Trong các trường hợp hạch mạc treo di động, sinh thiết được thực hiện tương tự như đối với khối u ruột non.
– Trong trường hợp hạch mạc treo di động, việc đẩy nhẹ hạch bằng đầu kim và nén đầu dò từ từ rất hữu ích để cố định hạch ở vị trí cho phép cắt bệnh phẩm chính xác.
– Nếu không thể tiếp cận qua đường bụng đối với các hạch vùng chậu, phương pháp tiếp cận qua trực tràng có thể được sử dụng.* Sinh thiết phúc mạc
– Sinh thiết mạc nối và phúc mạc nên được thực hiện ưu tiên tại vùng dày nhất gần thành bụng, tránh tiếp xúc với thành ruột hoặc các mạch máu lớn lân cận..* Đánh giá biến chứng
– Đau là biến chứng nhẹ thường gặp nhất và thường được kiểm soát hiệu quả bằng thuốc giảm đau, ngay cả trong các trường hợp đau nặng.
– Chảy máu là biến chứng nặng phổ biến nhất, mặc dù hiếm gặp (0-3,4%). Máu mới có độ phản âm tương tự với các tạng đặc xung quanh nên có thể bị bỏ sót trong quá trình siêu âm. Trong trường hợp nghi ngờ chảy máu phúc mạc sau sinh thiết, nên thực hiện chụp CT để đánh giá. Đáng chú ý, nguy cơ chảy máu không bị ảnh hưởng nhiều bởi kích thước kim sinh thiết. Nếu xảy ra xuất huyết, đặc biệt sau sinh thiết lách, có thể cần can thiệp nút mạch qua da hoặc thậm chí cắt lách cấp cứu tùy theo mức độ nghiêm trọng.
– Tổn thương tạng ngoài ý muốn khi đường đi của kim xuyên qua các cơ quan. Tuy nhiên, nguy cơ này thường thấp, trừ khi tạng bị xuyên qua bị rách do bệnh nhân hít thở sâu trong lúc kim đang được đẩy vào.
– Gieo rắc tế bào ác tính dọc đường kim sau sinh thiết là biến chứng hiếm gặp, với tỷ lệ từ 0-5,1%. Tuy nhiên, để giảm nguy cơ này, nên hạn chế số lần chọc kim ở mức tối thiểu cần thiết.
Tài liệu tham khảo
* Fine needle aspiration of the liver with ultrasound guidance – J L Nosher, J Plafker
* Fine needle aspiration biopsy of the liver: Algorithmic approach and current issues in the diagnosis of hepatocellular carcinoma – Aileen Wee
* Ultrasound‐guided percutaneous liver biopsy – P S Sidhu
* Sonography-Guided Percutaneous Liver Biopsies in Children – Pradeep Govender, Maureen M. Jonas
* Fusion Imaging–Guided Percutaneous Biopsy of Focal Hepatic Lesions With Poor Conspicuity on Conventional Sonography – Hyun Jeong Park MD, Min Woo Lee MD
* Image-guided Percutaneous Biopsy of the Liver – Ather Adnan MS
* Imaging Guided Percutaneous Hepatic Biopsy: Diagnostic Accuracy and Safety – Whitmire, L F M.D.; Galambos, J T M.D
* Imaging-guided Parenchymal Liver Biopsy: How We Do It – Gopal R Vijayaraghavan
* Ultrasound-Guided Percutaneous Core Needle Biopsy of Abdominal Viscera: Tips to Ensure Safe and Effective Biopsy – Jin Woong Kim, MD
* Liver Biopsy: Indications, Techniques and Complications – M. Lukies















# Cập nhật nội dung bài viết 7/11/2025
# Cập nhật nội dung bài viết 5/4/2024
# Cập nhật nội dung bài viết 1/1/2023