I. Đại cương
– Gãy xương sườn (rib fracture) là tình trạng mất liên tục vỏ xương hoặc sụn sườn do chấn thương trực tiếp, đè ép hoặc nén ép lồng ngực hoặc bệnh lý toàn thân làm giảm mật độ xương:
+ Chấn thương ngực chiếm khoảng 10% đến 15% tổng số bệnh nhân chấn thương cấp cứu, gãy xương sườn gặp ở trên 85% trường hợp chấn thương lồng ngực kín.
+ Cơ chế bệnh sinh gồm chấn thương năng lượng cao do tai nạn giao thông, ngã cao, chấn thương thể thao, gãy do co kéo cơ đột ngột hoặc gãy bệnh lý trên nền di căn xương, loãng xương và viêm tủy xương.
+ Yếu tố tiên lượng nặng là tuổi cao, số lượng xương sườn gãy nhiều và mức độ di lệch lớn của các đoạn gãy.
– Phân vùng giải phẫu tổn thương xương sườn:
+ Nhóm xương sườn 1 đến xương sườn 3 được bảo vệ bởi đai vai và khối cơ dày thành ngực, gãy tại đây cần lực chấn thương năng lượng rất cao và cảnh báo tổn thương động mạch và tĩnh mạch dưới đòn, quai động mạch chủ và đám rối cánh tay.
+ Nhóm xương sườn 4 đến xương sườn 9 là vùng chịu lực kém nhất và gãy phổ biến nhất, liên quan trực tiếp dập nhu mô phổi, rách màng phổi, tràn khí màng phổi và tràn máu màng phổi.
+ Nhóm xương sườn 8 đến 10 là xương sườn giả, nhóm xương sườn 11 đến 12 là xương sườn cụt có độ di động cao, khi gãy di lệch có nguy cơ rách cơ hoành, chấn thương gan, lách, thận và tụ máu sau phúc mạc.
– Tương quan lâm sàng và biến chứng lồng ngực tăng theo số lượng đường gãy:
+ Mảng sườn di động hình thành khi gãy từ 3 xương sườn liên tiếp trở lên, mỗi xương gãy tại 2 vị trí, gây thở nghịch thường, đè ép nhu mô phổi và suy hô hấp cấp.
+ Dập và rách nhu mô phổi do đầu gãy di lệch đâm xuyên gây tụ máu nhu mô, xẹp phổi và tiến triển thành suy hô hấp cấp.
+ Thoát vị phổi qua thành ngực khi nhu mô phổi trồi qua khuyết rách cơ gian sườn do gãy di lệch rộng.
+ Tràn khí màng phổi áp lực, tràn máu màng phổi lượng lớn và tràn khí trung thất cần chẩn đoán hình ảnh cấp cứu bằng X quang quy ước, siêu âm tại giường với POCUS và CLVT đa dãy để định hướng dẫn lưu hoặc phẫu thuật.
* Giải phẫu
– Có 12 đôi xương sườn, trong đó có 7 đôi “xương sườn thật” và 5 đôi “xương sườn giả”. Các xương sườn thật có khớp sụn sườn gắn trực tiếp vào xương ức, các xương sườn giả thì không. Các xương sườn 11,12 gọi là xương sườn di động vì đầu trước tự do.
– Xương sườn điển hình: mỗi xương sườn có một chỏm mang hai diện khớp tiếp khớp với thân đốt sống tương ứng và thân đốt sống nằm trên, một cổ sườn, một củ sườn và một phần xù xì không tiếp khớp và một diện khớp nhẵn để tiếp khớp với mỏm ngang của đốt sống tương ứng. Phần còn lại là một thân xương dài, dẹt hai mặt và được chia thành hai phần bởi góc sườn.
– Xương sườn 1: là xương sườn ngắn nhất và cong nhất. Trên bờ trong mặt trên có một củ xương lồi cho cơ bậc thang trước bám. Tĩnh mạch dưới đòn bắt chéo xương sườn 1 ở trước củ. Ở sau củ là rãnh động mạch dưới đòn để động mạch dưới đòn và thân dưới đám rối cánh tay đi qua. Chính đây là nơi có thể làm thủ thuật gây tê tại chỗ đám rối cánh tay.
– Xương sườn 10: chỉ có 1 diện khớp ỏ chỏm.
– Xương sườn 11, 12: ngắn, không có củ sườn và chỉ có 1 diện khớp ở chỏm sườn.

* Nguyên nhân
+ Chấn thương ngực kín và vết thương ngực xuyên thấu.
+ Gãy bệnh lý trên nền di căn, loãng xương và viêm tủy xương.
+ Gãy do căng thẳng thường gặp ở vận động viên, ở thành bên và trước bên, động tác lặp lại trên đầu gây gãy xương sườn 1, động tác xoắn gây gãy xương sườn giữa và dưới.
+ Loãng xương làm giảm mật độ xương và tăng nguy cơ gãy.
+ Bạo hành trẻ em thường gây gãy xương sườn sau.
+ Bạo lực gia đình thường gây gãy xương sườn sau.
+ Hồi sức tim phổi.
+ Loạn sản xương gây gãy xương sườn ở thai nhi.
+ Gãy sau xạ trị.
+ Gãy tự phát không rõ chấn thương.
* Lâm sàng
– Điểm đau chói hay có tiếng lạo xạo xương
– Đau tăng lên khi ho hoặc hít thở sâu
– Bầm tím, sưng nề, tụ máu vùng chấn thương.
– Có thể tụ máu mô mềm quanh ổ gãy
– Gãy di lệch sẽ gây thủng phổi và màng phổi
* Một số loại gãy
– Xương sườn 1, 2: khó gãy vì có xương bả che, khi gãy gây tổn thương bó mạch dưới đòn, đám rối cánh tay. Sườn 1 ít khi bị gãy đơn độc mà thường gãy cùng xương sườn 2 hoặc 3,4. Sườn 1 được sườn 2 nhô ra như một vòng cung che chở. Phía sau và ngoài có xương bả vai. Phía trước tại nơi nông nhất là có 1 phần xương đòn nho ra. Do đó gãy sườn 1 thường kèm theo gãy xương đòn, trật khớp cùng – đòn hoặc ức – đòn, có khi gãy cả xương bả vai.
– Xương sườn từ 5 tới 9 có tỷ lệ gãy cao nhất.
– Gãy xương sườn 8, 9: thường kèm theo tổn thương gan, lách.
– Gãy xương sườn người già: dễ gãy, bệnh nhâu đau không dám ho và thở mạnh => nguy cơ tắc đờm rãi => xẹp phổi
– Xương sườn 11, 12: xương sườn nhỏ, lại có đầu tự do nên ít gãy. Gãy sườn 11, 12 ít khi gây tổn thương phổi mà hay gây tổn thương màng phổi. Đầu xương sườn có thể đâm thủng cơ hoành gây tổn thương tạng ổ bụng như gan, lách hoặc tổn thương cơ hoành trái gây thoát vị hoành.
– Tổn thương sụn sườn: sụn sườn có thể bị gãy, có thể bị tách rời một phần hoặc hoàn toàn khỏi khớp sụn sườn. Thường không phát hiện trên X-Quang vì tổ chức sụn không cản quang.
– Trẻ em: xương đàn hồi, lồng ngực co giãn nên khó gãy; khi đã gãy thường do lực lớn và tổn thương phối hợp nghiêm trọng.
– Mảng sườn di động: gãy 3 xương sườn liên tiếp trở lên và 2 đầu gãy cùng 1 xương, các ổ gãy nằm trên cùng 1 đường thẳng => hô hấp đảo ngược và lắc lư trung thất.
Tài liệu tham khảo
* Keep Your Eyes on the Ribs: The Spectrum of Normal Variants and Diseases That Involve the Ribs – Adam R. Guttentag, MD, and Julia K. Salwen, MD
* Multidetector CT of Blunt Thoracic Trauma – Rathachai Kaewlai, MD, Laura L. Avery, MD
* Chest Radiography in Thoracic Polytrauma – * Child Abuse and Neglect Syndrom – ribs fractures – . Senkyrik, J. Skotakova, L. Dohnalová
* Fixing the Cage: What The Surgeon Wants to Know About Traumatic Rib Fractures – A. Atinga, M. De La Hoz Polo, D. Dalili
* Ultrasound of the thoracic wall: in the first-line of diagnosis – M. del Amo, I. Vollmer, J. Pomes
* Extrapleural density on oblique chest radiographs in non-accidental injury – J. Bomer, H. Holscher; Den Haag/NL
* CT imaging in chest trauma – E. Larrazabal, L. Hernaiz, B. Guantes
* Traumatic Rib Injury: Patterns, Imaging Pitfalls, Complications, and Treatment – Brett S. Talbot , Christopher P. Gange, Jr, Apeksha Chaturvedi
* Costal cartilage fractures: an overlooked injury in polytrauma patients? A review of 978 consecutive blunt trauma patients – M. Nummela, F. V. Bensch, S. K. Koskinen
* Magnetic Resonance Imaging has Better Accuracy in Detecting New-Onset Rib Fractures as Compared to Computed Tomography – Tao Zhang
* Missed rib fractures on evaluation of initial chest CT for trauma patients: pattern analysis and diagnostic value of coronal multiplanar reconstruction images with multidetector row CT – S H CHO, MD
* “Buckle” rib fracture: An artifact following cardio-pulmonary resuscitation detected on postmortem CT – Kyung-mooYang







# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 4/10/2026
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 24/12/2024