• Giải Phẫu
  • Xương Khớp
  • Thần Kinh
  • Hô Hấp
  • Tim Mạch
  • Tiêu Hóa
  • Tiết Niệu
  • Sinh Dục

Xray.vn

Chẩn Đoán Hình Ảnh

Đăng ký Đăng nhập
Đăng nhập tài khoản
   
Thành viên mới ⇒ Đăng ký ↵
  • Atlas Netter
    • Atlas Đầu cổ
    • Atlas Lồng ngực
    • Atlas Ổ bụng
    • Atlas Chậu hông
    • Atlas Cột sống
    • Atlas Chi trên
    • Atlas Chi dưới
  • Can Thiệp
  • Siêu Âm
  • Test CĐHA
    • Test Giải phẫu
    • Lý thuyết CĐHA
    • Giải phẫu X-quang
    • Case lâm sàng XQ
    • Case lâm sàng SA
    • Case lâm sàng CT
    • Case lâm sàng MRI
    • Giải trí Xray.vn
  • CASE
  • Đào Tạo
  • Giới Thiệu
  • Liên Hệ
Trang chủ » Xương khớp » Xương Hóa Đá | Bài giảng CĐHA

Xương Hóa Đá | Bài giảng CĐHA

20/12/2024 ThS. Nguyễn Long 5 Bình luận  33829

Nội Dung Bài Giảng

  1. A. Xương hóa đá
    1. I. Đại cương
    2. II. Phân loại
    3. III. Chẩn đoán x-quang
  2. B. Xương thủy tinh
    1. I. Đại cương
    2. II. Phân loại
    3. III. Chẩn đoán x-quang
  3. Tài liệu tham khảo

A. Xương hóa đá

I. Đại cương

– Bệnh Albers – Schonberg hay còn gọi là bệnh xương hóa đá (Osteopetrosis) là một rối loạn di truyền không phổ biến do các tế bào hủy xương bị khiếm khuyết. Xương trở nên cứng và dày, nhưng cấu trúc bất thường của chúng thực sự khiến chúng yếu và giòn.
– Tỷ lệ mắc bệnh ước tính là 1/100.000-500.000 dân
– Biểu hiện, trong phần lớn các trường hợp, là gãy xương do xương yếu. Gãy xương thường theo chiều ngang với nhiều vùng hình thành can xương và lành lại bình thường.
– Giai đoạn sớm, khi trung tâm tạo huyết tố vẫn còn và trở thành tăng sản trong gan, lách và hạch bạch huyết để bù đắp khả năng tạo máu của tủy xương.
– Giai đoạn muộn, thường kèm theo biến chứng thiếu máu giảm sản kéo dài, giảm tiểu cầu, tăng sản của hạch bạch huyết, gan và lách rất lớn. Chảy máu ồ ạt do giảm sản tiểu cầu và sụn sườn và tổ chức xốp của sự nhiễm trùng cơ hội, là nguyên nhân thông thường dẫn đến tử vong.

Xương hóa đá (Osteopetrosis)

II. Phân loại

– Thể trội trên NST thường: bệnh nhân có khả năng biểu hiện bệnh khi nhận được một NST bệnh từ bố hoặc từ mẹ. Triệu chứng nhẹ bắt đầu từ cuối thời thơ ấu cho đến khi trưởng thành. Đây là dạng phổ biến nhất. Nhiều bệnh nhân không có triệu chứng và chỉ được chẩn đoán khi bị viêm tủy xương, đặc biệt là ở hàm dưới. Các triệu chứng khác bao gồm đau xương, gãy xương tái phát, đau lưng và viêm khớp thoái hóa.
– Thể lặn trên NST thường: người bệnh cần phải được di truyền cả 2 NST lặn từ bố và mẹ. Thể bệnh này còn gọi là dạng ác tính ở trẻ sơ sinh. Triệu chứng xuất hiện ngay khi trẻ chào đời và rút ngắn tuổi thọ của bé. Các đặc điểm lâm sàng bao gồm chậm phát triển, rối loạn hình thái, liệt dây thần kinh do hẹp ống xương, nhiễm trùng tái phát do khiếm khuyết trong hệ thống miễn dịch và các vấn đề về huyết học do suy tủy xương.
– Thể gen lặn trên NST giới tính X: cực kỳ hiếm, chỉ có một vài trường hợp được ghi nhận trên thế giới, chủ yếu ảnh hưởng đến nam giới.

  Xray.vn là Website học tập về chuyên ngành Chẩn Đoán Hình Ảnh

  NỘI DUNG WEB
» 422 Bài giảng chẩn đoán hình ảnh
» X-quang / Siêu âm / CT Scan / MRI
» 25.000 Hình ảnh case lâm sàng

  ĐỐI TƯỢNG
» Kỹ thuật viên CĐHA
» Sinh viên Y đa khoa
» Bác sĩ khối lâm sàng
» Bác sĩ chuyên khoa CĐHA

  Nội dung Bài giảng & Case lâm sàng thường xuyên được cập nhật !

  Đăng nhập Tài khoản để xem Nội dung Bài giảng & Case lâm sàng !!!

Đăng nhập tài khoản
   
Thành viên mới ⇒ Đăng ký ↵

III. Chẩn đoán x-quang

* Thể người lớn

– Bệnh xương hóa đá trội trên nhiễm sắc thể thường là loại ít nghiêm trọng hơn, cũng được gọi là “lành tính” hoặc “người lớn” vì bệnh nhân sống sót đến tuổi trưởng thành.
– Triệu chứng lâm sàng của osteopetrosis di truyền trội trên nhiễm sắc thể thường bao gồm:
+ Nhiều gãy xương: Do xương yếu.
+ Nhiều chèn ép dây thần kinh sọ: Điều này có thể dẫn đến các triệu chứng như điếc và/hoặc mù.
+ Gan lách to: Do tạo máu ngoài tủy vì thay thế tủy đỏ của xương.
– Phân loại:
+ Loại I: xơ cứng xương rõ rệt ở vòm sọ với biểu hiện lâm sàng là liệt dây thần kinh sọ.
+Loại II: dày lên ở đốt sống mặt diện khớp (đốt sống kiểu sandwich ) và hình dạng xương nội tuỷ “xương trong xương” ở khung chậu, tăng nguy cơ gãy xương.
– Đặc điểm hình ảnh:
+ Hình ảnh xương trong xương: hình ảnh xơ cứng xương dày đặc, lan rộng. Tổ chức xương xốp mờ nhạt. Xoá đi các đường ranh giới giữa vỏ xương và tổ chức xương xốp.
+ Vôi hóa ở sụn, sụn bị phá hủy từ từ trong quá trình phát triển xương và kết quả là khoang tủy và ống tủy giảm dần về thể tích hoặc không được tạo thành mà bị thay thế bằng tổ chức sụn vôi hoá, vỏ xương đặc lại và giảm sản.

[gallery link="file" columns="5" ids="25471,145008,145009,145019,145020,145021,145017,145018,145029,145030,145031,145033,145034,145035,145042,145043,145056,145057,145058,145066,145067,145068"]

=> Case lâm sàng 1:

[gallery link="file" columns="4" ids="89229,89226,89225,89227"]

+ Dày màng xương là nguyên nhân thông thường của sự tăng lắng đọng calci khuếch tán.

8fb0b6f33e49a0c52e4c09d77aab4e

+ Biến dạng bình Erlenmeyer của xương ống: còn được gọi là loe đầu xương, đề cập đến hình ảnh thường thấy trên phim x-quang xương đùi, cho thấy giảm kích thước thân xương và loe đầu xương do sự giảm ống hóa.

[gallery columns="2" link="file" ids="179443,25472"]

+ Hình ảnh “đốt sống sandwich”: bề mặt diện khớp các thân đốt sống xơ cứng dày đặc giống như một chiếc bánh sandwich, trung tâm thân đốt trở lên trong suốt.

[gallery link="file" ids="145064,145063,145035,145052,145025,145059"]

* Thể sơ sinh

– Bệnh xương hóa đá ở trẻ sơ sinh là một phân nhóm của bệnh xương hóa đá. Đây là một dạng nghiêm trọng hơn và có xu hướng biểu hiện sớm hơn. Do đó, bệnh này được gọi là “trẻ sơ sinh” và “ác tính”.
– 70% trường hợp bị ảnh hưởng sẽ tử vong. Hầu hết những người còn lại có chất lượng cuộc sống rất kém và tử vong ở độ tuổi khoảng 10.
– Bệnh nhân thường có bộ xương yếu và đặc, có thể có nhiều gãy xương đã lành. Sự loe đầu xương cũng có thể rõ ràng.
– Hình ảnh xương trong xương.
– Răng bị khiếm khuyết với sự hình thành men răng không hoàn chỉnh và/hoặc sâu răng.
– Các xoang cạnh mũi: kém khí hóa (xoang sàng ít bị ảnh hưởng nhất).
– Hộp sọ: bản trong có độ suy giảm cao, không gian xốp rộng có độ suy giảm thấp, và bản ngoài có độ suy giảm ít hơn.
– Hình ảnh “hair-on-end” (tóc dựng đứng) là một thuật ngữ mô tả các vùng có hoạt động tạo máu tăng lên. Hình ảnh này thường thấy trên phim x-quang sọ, xuất hiện như các vệt dọc mỏng, dài giống như tóc dựng đứng.

=> Case lâm sàng 1:

[gallery columns="4" link="file" ids="144995,144997,144998,144999,145000,145001,145002,145003"]

B. Xương thủy tinh

I. Đại cương

– Xương thủy tinh (Osteogenesis imperfecta – OI) là một rối loạn di truyền đặc trưng bởi xương dễ gãy, thường ít hoặc không có nguyên nhân rõ ràng, là kết quả của đột biến ảnh hưởng đến collagen trong mô liên kết, làm cho xương giòn và dễ gãy sau va chạm nhẹ hay ngay cả khi không có sang chấn, còn được gọi là bệnh xương thủy tinh.
– Nguyên nhân của OI là một khiếm khuyết di truyền có ảnh hưởng đến sự sản xuất collagen của cơ thể. Collagen là protein chính của mô liên kết của cơ thể. Người bệnh có collagen hoặc ít hơn bình thường, hoặc chất lượng kém hơn bình thường, điều này dẫn đến xương yếu và dễ gãy.
– Đây là một bệnh hiếm gặp, tỷ lệ bệnh vào khoảng 1/20.000, tần suất bệnh không phụ thuộc vào chủng tộc và giới tính. Nước ta cho đến nay chưa có số liệu cụ thể về số người mắc căn bệnh này.
– Lâm sàng: Triệu chứng lâm sàng của osteogenesis imperfecta rất đa dạng, từ dạng nhẹ không có biến dạng, chiều cao bình thường và ít gãy xương đến dạng gây tử vong trong giai đoạn chu sinh. Nói chung, bốn đặc điểm lâm sàng chính của osteogenesis imperfecta bao gồm:
+ Loãng xương với xương dễ gãy bất thường
+ Củng mạc xanh
+ Răng dễ gãy
+ Suy giảm thính lực
+ Các đặc điểm khác bao gồm lỏng lẻo dây chằng và khớp di động quá mức, chiều cao thấp và dễ bầm tím.

iCspnqkiq1Xus24sKbYB1gf4

II. Phân loại

– Type I:
+ Loại phổ biến nhất và nhẹ nhất.
+ Xương dễ gãy. Hầu hết các gãy xương xảy ra trước tuổi dậy thì.
+ Tầm vóc trung bình
+ Khớp lỏng lẻo và yếu cơ.
+ Củng mạc mắt màu xanh hay tím.
+ Có xu hướng bị cong cột sống.
+ Có thể có răng dễ gãy.
+ Nghe kém thường bắt đầu trong độ tuổi 20 hoặc 30.
+ Cấu trúc collagen bình thường nhưng số lượng ít hơn bình thường

– Type II
+ Là dạng nghiêm trọng nhất
+ Gây tử vong ngay sau sinh, thường do vấn đề hô hấp.
+ Gãy xương nhiều và biến dạng xương nặng.
+ Tầm vóc nhỏ với phổi kém phát triển.
+ Collagen được hình thành không đúng cách

– Type III
+ Xương dễ gãy. Gãy xương thường xảy ra khi sinh, và x-quang có thể cho thấy gãy xương đã chữa lành xảy ra trước khi sinh.
+ Tầm vóc nhỏ.
+ Khớp lỏng lẻo và kém phát triển cơ bắp ở tay và chân.
+ Củng mạc mắt thường quá trắng hoặc có màu xám, xanh
+ Cột sống cong.
+ Có thể có vấn đề hô hấp.
+ Răng dễ gãy, nghe kém
+ Collagen được hình thành không đúng cách.

– Type IV
+ Trung gian giữa type I và type III.
+ Xương dễ gãy thường xảy ra trước tuổi dậy thì.
+ Thấp hơn tầm vóc trung bình.
+ Củng mạc có màu trắng hoặc gần trắng (tức là bình thường).
+ Biến dạng xương từ nhẹ đến trung bình.

Xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng sẽ là type 1, type 4, type 3, type 2.

III. Chẩn đoán x-quang

– Đầu, cổ và cột sống
+ Lõm nền sọ: đỉnh của mỏm nha nhô lên trên lỗ lớn xương chẩm
+ Xương Wormian: còn được gọi là xương trong khớp, là tên gọi của các xương nhỏ bổ sung hoặc các đảo xương đôi khi được tìm thấy giữa các khớp sọ của các xương vòm sọ.
+ Gù vẹo cột sống
+ Gãy xẹp đốt sống
+ Đốt sống hình cá tuyết: mô tả hình dạng lõm hai mặt của các đốt sống (đặc biệt là đốt sống thắt lưng).
+ Dẹt đốt sống

[gallery link="file" columns="4" ids="145102,145103,145104,145105"]

– Ngực
+ Lõm hoặc lồi xương ức.
+ Xương sườn hình đàn accordion
– Xương chậu:
+ Lồi ổ cối
+ Cong xương đùi vào trong.

[gallery link="file" ids="38189,38187,38188"]

– Hình ảnh biểu hiện tình trạng loãng xương mức độ nặng: mật độ xương giảm, vỏ xương mỏng, thớ xương xốp thưa.

[gallery columns="4" link="file" ids="38190,145079,145080,145081"]

– Biến dạng xương

[gallery link="file" columns="5" ids="145099,145107,145082,145083,145084"]

– Hình ảnh can xương tăng sản

– Có thể gãy xương bệnh lý kèm phản ứng can xương. Hình thành khớp giả tại các vị trí gãy xương đang lành.

[gallery columns="5" link="file" ids="38192,145088,145089,145090,145091,145093,145094,145095,145110,145111"]

– Vôi hóa “popcorn”: các hành xương và đầu xương có nhiều vùng sáng hình vỏ sò với viền xơ cứng
– Dấu hiệu sọc ngựa vằn: điều trị bisphosphonate theo chu kỳ tạo ra các đường phục hồi tăng trưởng xơ cứng trong xương dài, nằm song song.

[gallery link="file" ids="38182,38183,38184,38185,38186,145085"]

Tài liệu tham khảo

* Osteogenesis Imperfecta Symptoms – Arthur Schoenstadt, MD
* Osteopetrosis – R. Manges Smith, M.D
* Cranial MR Imaging of Osteopetrosis – Joel K. Curé, Lyndon L. Key, David D. Goltra and Pamela VanTassel
* Clinicoradiological Findings of Benign Osteopetrosis: Report of Two New Cases – Elahe Tohidi
* Clinical and Radiological Findings of Autosomal Dominant Osteopetrosis Type II: A Case Report – Priyanka Kant
* Osteopetrosis: Radiological & Radionuclide Imaging – Cherry Sit
* Osteopetrosis – Zornitza Stark
* Osteosclerosis – The list of possibilities – N. C. S. D. Ferreira
* Radiographic findings in hereditary sclerosing bone dysplasias with endochondral ossification – A. M. Berral Santana
* Diffuse bone sclerosis: A pictorial review – B. Graca, J. Brito, A. Canelas, H. Rodrigues, C. Marques, F. Caseiro-Alves; Coimbra/PT
* Radiological Findings in Autosomal Recessive Infantile Osteopetrosis – Cristina Gómez Varela
* Sclerosing Bone Dysplasias: Review and Differentiation from Other Causes of Osteosclerosis – Lauren L. Ihde, Deborah M. Forrester, Christopher J. Gottsegen, Sulabha Masih, Dakshesh B. Patel, Linda A. Vachon, Eric A. White, George R. Matcuk, Jr
* Imaging of Multifocal and Diffuse Sclerotic Bone Lesions – Omer Awan, MD, Jim S. Wu, MD, and Ronald L. Eisenberg, MD
* Diagnostic Imaging: Musculoskeletal Non-Traumatic Disease, 3e (2022) – Davis, Blankenbaker, Bernard
* Radiographic features of osteogenesis imperfecta – Armelle Renaud
* Leg bowing in pediatric population: A pictorial review – M. Sah
* A new severity-score for osteogenesis imperfecta – first results – F. Koerber, E. Schoenau, D. Maintz, S. Koerber, O. Semler; Cologne/DE
* Osteogenesis imperfecta: a clinical and radiological overview – D. A. Forster; London/UK
* Osteogenesis imperfecta: clinical features and imaging overview – A. Mendonça Neto

  • Share on Facebook
  • Tweet on Twitter
  • Share on LinkedIn

Xem thêm bài giảng

Viêm Gân Vôi Hóa | Bài giảng CĐHA *
Tiếp Cận Chẩn Đoán U Xương | Bài giảng CĐHA
Loạn Sản Xơ Xương | Bài giảng CĐHA *

Danh mục: Xương khớp

guest
guest
5 Bình luận
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
ThS. Nguyễn Long
ThS. Nguyễn Long
Admin
20/12/2024 4:49 chiều

# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 20/12/2024

Trả lời ↵
ThS. Nguyễn Long
ThS. Nguyễn Long
Admin
13/12/2024 1:29 sáng

# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 13/12/2024

Trả lời ↵
ThS. Nguyễn Long
ThS. Nguyễn Long
Admin
19/08/2022 11:09 chiều

# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 19/8/2022

Trả lời ↵
ThS. Nguyễn Long
ThS. Nguyễn Long
Admin
13/03/2022 10:37 chiều

# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 13/3/2022

Trả lời ↵
ThS. Nguyễn Long
ThS. Nguyễn Long
Admin
20/01/2020 9:22 chiều

# Cập nhật nội dung bài viết 20/1/2020

Trả lời ↵

Sidebar chính

Thư Viện Ca Lâm Sàng

  • Hô Hấp

    Hô Hấp (450)

  • Sinh Dục

    Sinh Dục (638)

  • Tai Mũi Họng

    Tai Mũi Họng (241)

  • Thần Kinh

    Thần Kinh (885)

  • Tiết Niệu

    Tiết Niệu (357)

  • Tiêu Hóa

    Tiêu Hóa (1445)

  • Tim Mạch

    Tim Mạch (170)

  • Xương Khớp

    Xương Khớp (544)

×

Thống Kê Website

  • » 352 Chủ Đề Chẩn Đoán Hình Ảnh
  • » 13564 Lượt Cập Nhật Bài Viết
  • » 9059 Tài Khoản Đã Đăng Ký
  • » 402 Tài Khoản Đang Truy Cập

© 2014-2026 | HPMU Radiology

HƯỚNG DẪN   ĐĂNG KÝ & GIA HẠN