I. Đại cương
– Định nghĩa viêm mủ màng phổi (pleural empyema):
+ Là tụ mủ hoặc dịch xuất tiết chứa vi khuẩn trong khoang màng phổi do cơ chế bệnh sinh khởi đầu ở cấp độ tế bào với tổn thương tế bào trung biểu mô và tăng tính thấm mạch.
+ Là hậu quả của phản ứng viêm màng phổi tiến triển từ dịch tự do đến khu trú khi lắng đọng fibrin và tạo vách xơ ở cấp độ vi cấu trúc.
– Đối tượng hay gặp và yếu tố nguy cơ:
+ Gặp ở mọi lứa tuổi, nguy cơ cao ở trẻ nhỏ và người cao tuổi suy kiệt, toàn trạng kém.
+ Hay gặp khi có bệnh lý kèm theo như u, bệnh tim mạch, đái tháo đường, nghiện rượu, lạm dụng thuốc, hút thuốc lá và nhiễm khuẩn hô hấp tái diễn.
+ Tỉ lệ tử vong thường dưới 1% nhưng có thể trên 40% ở người suy giảm miễn dịch.
– Tác nhân gây bệnh và đường lan đến màng phổi:
+ Thường gặp phế cầu và tụ cầu, gia tăng tác nhân Gram âm và kỵ khí, hiếm gặp lao và nấm.
+ Lan trực tiếp từ tổn thương lân cận như viêm phổi, áp xe phổi, áp xe gan chiếm 50-60%.
+ Xâm nhập trực tiếp vào khoang màng phổi sau phẫu thuật và chấn thương chiếm 30-40%.
+ Lan theo đường máu hiếm gặp.
– Phân loại ba giai đoạn của tràn mủ màng phổi theo Hội Lồng ngực Anh (British Thoracic Society Guideline for pleural disease 2023):
+ Giai đoạn xuất tiết với dịch loãng ít fibrin, màng phổi còn mỏng và dễ hồi phục ở cấp độ vi cấu trúc.
+ Giai đoạn lắng đọng fibrin và hình thành vách mủ với mạng fibrin, vách hóa và dịch phân ngăn.
+ Giai đoạn tổ chức hóa với tạo mô xơ sẹo do lắng đọng fibrin và collagen còn gọi là giai đoạn ổ cặn gây dày dính màng phổi và phổi kẹt.
– Diễn biến tự nhiên từ tràn dịch tự do đến khu trú:
+ Ban đầu là tràn dịch tự do, về sau khu trú do dính và vách xơ ở cấp độ vi cấu trúc.
+ Khối mủ khu trú có hình hai mặt lồi và hình tròn do tăng tiết dịch và giới hạn bởi dính màng phổi.
+ Có thể có khí trong khoang màng phổi do dò phế quản màng phổi hoặc do vi khuẩn sinh khí.
* Nguyên nhân:
– Áp xe phổi vỡ vào khoang màng phổi:
+ Vỡ trực tiếp gây tràn mủ khí màng phổi chiếm khoảng 65% các trường hợp.
+ Lan qua đường bạch mạch gây viêm mủ màng phổi cạnh tổn thương.
– Viêm phổi và tổn thương phổi phá hủy:
+ Viêm phổi thường gây biến chứng viêm mủ màng phổi do lan kề qua màng phổi tạng ở cấp độ vi cấu trúc.
+ Ký sinh trùng, nang bẩm sinh bội nhiễm, ung thư phổi giai đoạn phá hủy và hang lao gây phá vỡ hàng rào màng phổi.
– Lan từ ổ nhiễm trùng lân cận qua hệ bạch mạch:
+ Do màng phổi có nhiều vòng nối bạch huyết giữa lồng ngực và ổ bụng nên viêm mủ màng phổi có thể xảy ra sau viêm mủ đường mật, viêm ruột thừa, viêm tụy, thủng ổ loét dạ dày tá tràng, áp xe dưới hoành, viêm phúc mạc, viêm quanh thận, nhiễm khuẩn trung thất và thành ngực.
+ Cơ chế bệnh sinh là vi khuẩn theo bạch mạch đến khoang màng phổi và gây tổn thương màng phổi ở cấp độ tế bào.
– Nguyên nhân toàn thân và lân cận khác:
+ Nhiễm khuẩn huyết lan theo đường máu hiếm gặp.
+ Viêm tấy lan tỏa thành ngực, viêm tủy xương và thương hàn.
– Nhóm thứ phát nặng thường phải can thiệp ngoại khoa:
+ Biến chứng phẫu thuật phổi, trung thất, thực quản và dạ dày, trong đó biến chứng sau cắt phổi thường gặp nhất.
+ Tràn máu màng phổi sau chấn thương tạo môi trường thuận lợi cho bội nhiễm ở cấp độ vi cấu trúc.
Tài liệu tham khảo
* Differentiating lung abscess and empyema: radiography and computed tomography –












# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 6/10/2026
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 21/12/2023