I. Đại cương
– Thuyên tắc phổi (pulmonary embolism, PE) và huyết khối tĩnh mạch sâu (deep vein thrombosis, DVT) là hai biểu hiện lâm sàng của bệnh lý thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (venous thromboembolism, VTE).
– Dịch tễ:
+ Thuyên tắc phổi là một trong ba nguyên nhân tử vong tim mạch hàng đầu, sau nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
+ Tỷ lệ tử vong trong 3 tháng ở người bệnh thuyên tắc phổi dao động 1,4–17,4%, thay đổi theo mức độ nặng và bệnh đồng mắc.
+ Tỷ lệ tử vong của thuyên tắc phổi cấp lần đầu khoảng 7–11%; nguy cơ tử vong khi tái phát có thể cao gấp ba.
– Nguyên nhân:
+ Khoảng 90% trường hợp thuyên tắc phổi có triệu chứng bắt nguồn từ huyết khối tĩnh mạch chi dưới; các vật liệu thuyên tắc không do huyết khối gồm mỡ, khí, nước ối và tế bào u.
+ Thuyên tắc không do huyết khối hiếm gặp, cần nghĩ đến trong bối cảnh phù hợp như chấn thương, thủ thuật, sản khoa hoặc ung thư.
+ Nguy cơ huyết khối tĩnh mạch sau phẫu thuật cao nhất trong 2 tuần đầu và vẫn tăng đáng kể đến 12 tuần.
– Biến chứng:
+ Di chứng gồm tăng áp phổi do huyết khối thuyên tắc mạn tính (chronic thromboembolic pulmonary hypertension, CTEPH) và suy tĩnh mạch mạn chi dưới do hội chứng hậu huyết khối (post-thrombotic syndrome, PTS), làm giảm chất lượng cuộc sống.
+ CTEPH gặp ở khoảng 1–3% người bệnh sau thuyên tắc phổi cấp.
+ Hội chứng hậu huyết khối gây suy tĩnh mạch mạn ở khoảng 20–30% người bệnh sau huyết khối tĩnh mạch sâu.
– Hình thái lâm sàng:
+ Thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch thường gặp nhưng khó chẩn đoán do khởi phát khó dự đoán và biểu hiện không đặc hiệu.
+ Khoảng 40–50% người bệnh huyết khối tĩnh mạch sâu đoạn gần có triệu chứng có thể đồng thời có thuyên tắc phổi không triệu chứng lâm sàng.
+ Ở người bệnh thuyên tắc phổi, tỷ lệ phát hiện huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới có thể lên đến 70%, tùy quần thể và phương pháp khảo sát.
– Cạm bẫy:
+ Tử vong sớm chủ yếu liên quan đến thuyên tắc phổi cấp gây suy huyết động; huyết khối tĩnh mạch sâu đơn thuần ít gây tử vong trực tiếp nhưng có thể gây thuyên tắc phổi nếu huyết khối bong ra.
+ Thuyên tắc phổi thường xuất hiện trong những ngày đầu sau khi hình thành huyết khối tĩnh mạch sâu; mốc 3–7 ngày chỉ là ước lượng, không áp dụng cho mọi trường hợp.
+ Có thể ghi nhận tới khoảng 10% người bệnh tử vong trong giờ đầu sau khởi phát triệu chứng; tỷ lệ này phụ thuộc quần thể và mức độ nặng.
– Theo dõi:
+ Nguy cơ tái phát còn tồn tại sau khi ngừng kháng đông và thay đổi theo yếu tố khởi phát, yếu tố nguy cơ kéo dài.
+ Một số quần thể nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tái phát tích lũy khoảng 33% trong 10 năm sau khi ngừng kháng đông; cân nhắc kéo dài kháng đông dựa trên nguy cơ tái phát và nguy cơ chảy máu.
* Lâm sàng
– Triệu chứng không đặc hiệu:
+ Khó thở là biểu hiện thường gặp nhất, khoảng 73% trong các nghiên cứu PIOPED I/II; có thể khởi phát đột ngột.
+ Đau ngực gặp khoảng 66%.
+ Thở nhanh gặp khoảng 70%.
+ Ho gặp khoảng 37%, thường không có đờm.
+ Nhịp tim nhanh gặp khoảng 30%.
+ Đau bắp chân hoặc đùi gặp khoảng 44%; đây là triệu chứng gợi ý, không xác nhận huyết khối tĩnh mạch sâu.
– Cơ chế bệnh sinh:
+ Tắc nhánh ngoại vi có thể gây nhồi máu phổi và kích thích màng phổi, biểu hiện bằng đau kiểu màng phổi; xuất huyết phế nang ở vùng nhồi máu có thể gây ho ra máu, gặp khoảng 13%.
+ Tắc trung tâm làm tăng hậu gánh thất phải đột ngột, có thể gây khó thở nặng, suy huyết động và đau sau xương ức kiểu thắt ngực do thiếu máu thất phải.
– Cạm bẫy:
+ Ngất ít gặp, nhưng liên quan với tỷ lệ bất ổn huyết động và rối loạn chức năng thất phải cao hơn.
+ Sốc hoặc tụt huyết áp biểu thị suy huyết động và là biểu hiện của thuyên tắc phổi nguy cơ cao.
+ Ở người bệnh có bệnh tim hoặc phổi từ trước, thuyên tắc phổi có thể chỉ biểu hiện bằng khó thở tăng dần.
Tài liệu tham khảo
* CT Angiography of Pulmonary Embolism: Diagnostic Criteria and Causes of Misdiagnosis – Conrad Wittram, MB, ChB, Michael M. Maher, MD
* Radiological monitoring in pulmonary embolism with 64-multidetector CT – G. Gallardo-Madueño, I. Torres, C. Fernandez-Capitán
* Chronic pulmonary emboli and radiologic mimics on CT pulmonary angiography: a diagnostic challenge – J. Saad, F. Marrakchi, A. Zrig
* Nonthrombotic pulmonary arterial embolism: radiological findings – R. Sanchez Oro, L. Ariño Montaner, M. Bértolo Domínguez
* Magnetic Resonance Imaging of Pulmonary Embolism: Diagnostic Accuracy of Unenhanced MR and Influence in Mortality Rates – Lilian Pasin, Matheus Zanon, Jose Moreira
* CT angiography for diagnosis of pulmonary embolism: state of the art – U Joseph Schoepf, Philip Costello
* Imaging diagnosis of acute pulmonary embolism – Ugur Bozlar, John R Gaughen, Ashwin P Nambiar, Klaus D Hagspiel
* Acute pulmonary embolism: imaging in the emergency department – Paul G Kluetz, Charles S White
* CT imaging of acute pulmonary embolism – Thomas Henzler, J Michael Barraza Jr, John W Nance Jr
* Acute Pulmonary Embolism: Imaging Techniques, Findings, Endovascular Treatment and Differential Diagnoses – Viktoria Palm, Fabian Rengier, Prabhakar Rajiah
* Imaging of acute pulmonary embolism: an update – Alastair J E Moore, Jason Wachsmann, Murthy R Chamarthy
* Acute and Chronic Pulmonary Emboli: Angiography–CT Correlation – Conrad Wittram, Mannudeep K. Kalra
* CT Diagnosis of Chronic Pulmonary Thromboembolism – Eva Castañer, Xavier Gallardo, Eva Ballesteros
* Diagnostic Performance of a Contrast-Enhanced Ultra-Low-Dose High-Pitch CT Protocol with Reduced Scan Range for Detection of Pulmonary Embolisms – Andreas S. Brendlin,Moritz T. Winkelmann, Felix Peisen
* Non-specific findings on pulmonary CTA in patients with acute pulmonary embolism – A. Oganesyan, E. Pershina, V. Sinitsyn, E. A. Mershina













# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 6/1/2020
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 28/11/2019
Cập nhật Case lâm sàng 8/7/2019
Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 15/6/2019
Cập nhật Case lâm sàng 22/12/2018