I. Đại cương
– Định nghĩa bướu giáp thòng (substernal goiter):
+ Là mô tuyến giáp lan qua lỗ ngực trên và nằm một phần trong lồng ngực; thường biểu hiện thành khối choán chỗ trung thất trên. Bướu có thể ở khoang trước mạch máu, khoang tạng hoặc lan ra sau; không mặc định mọi trường hợp đều thuộc trung thất trước.
+ Phần lớn hình thành do bướu tuyến giáp cổ phát triển kéo dài rồi lan xuống trung thất. Trọng lực và áp lực âm trong lồng ngực góp phần vào sự di chuyển này; đây không phải quá trình xảy ra ở cấp độ vi cấu trúc.
– Tiêu chuẩn xác định bướu giáp thòng:
+ Chưa có một định nghĩa thống nhất. Tiêu chuẩn thường dùng là trên 50% thể tích tuyến giáp nằm dưới lỗ ngực trên.
+ Một số tài liệu dùng các ngưỡng thay thế như bướu lan quá 3 cm dưới hõm ức hoặc xuống đến mức đốt sống ngực T4. Các tiêu chuẩn này không tương đương và không cần đồng thời thỏa mãn.
+ Cần ghi rõ mốc giải phẫu và cách đo khi báo cáo độ lan xuống; chỉ nêu “bướu lớn” hoặc “chìm dưới hõm ức” không đủ để so sánh giữa các tiêu chuẩn.
– Dịch tễ và bản chất mô học:
+ Tần suất thay đổi theo định nghĩa, quần thể và cách tuyển chọn bệnh nhân. Các báo cáo được trích dẫn trong tài liệu nêu tỷ lệ 3–20% trong nhóm bướu giáp và khoảng 1% trong nhóm u trung thất, nhưng không nên xem đây là ước tính hiện mắc chung.
+ Bướu thường là bướu giáp đa nhân lành tính, hay gặp dạng keo hoặc tăng sản dạng nốt; hình ảnh không thay thế được chẩn đoán mô học.
+ Tỷ lệ ác tính thay đổi theo quần thể. Phân tích gộp năm 2025 trên các trường hợp được phẫu thuật ghi nhận tỷ lệ 12,4%; con số này chịu ảnh hưởng của chọn mẫu và không đại diện cho nguy cơ ở mọi người có bướu giáp thòng.
+ Bướu thứ phát từ tuyến giáp cổ thường được cấp máu từ hệ động mạch giáp, chủ yếu là động mạch giáp dưới. Tuyến giáp lạc chỗ trong lồng ngực có thể có mạch nuôi riêng từ các mạch trong ngực.
– Biểu hiện lâm sàng:
+ Bướu thường tiến triển chậm; có thể sờ thấy tuyến giáp to ở cổ nhưng một số người bệnh không có triệu chứng rõ dù hình ảnh đã thấy chèn ép.
+ Triệu chứng chèn ép gồm khó thở, ho, thở rít hoặc khó thở khi nằm do ảnh hưởng khí quản; khó nuốt do ảnh hưởng thực quản; khàn tiếng có thể gặp khi thần kinh thanh quản quặt ngược bị ảnh hưởng.
+ Chèn ép tĩnh mạch lớn có thể gây phù mặt, tĩnh mạch cổ nổi hoặc hội chứng tĩnh mạch chủ trên. Dấu Pemberton (Pemberton sign)—xuất hiện sung huyết mặt hoặc khó thở khi nâng hai tay—có thể gợi ý tắc nghẽn đường thoát tĩnh mạch ở lỗ ngực trên.
+ Chức năng tuyến giáp có thể bình thường hoặc bất thường; không thể suy ra tình trạng cường hay suy giáp chỉ từ kích thước bướu.
+ Trong phân tích gộp năm 2025 trên các nhóm bệnh nhân phẫu thuật, 27,6% không có triệu chứng, 64,8% có triệu chứng chèn ép; hình ảnh ghi nhận lệch khí quản ở 60,6% và chèn ép khí quản ở 48,6%. Đây là số liệu của nhóm phẫu thuật, không đại diện cho toàn bộ người mắc bệnh.
Tài liệu tham khảo
* Intrathoracic Goiter – James J. McCort, M.D.Boston, Mass
* Rare mediastinal masses: Imaging aspects – S. Hantous-Zannad, H. Mhalla, A. Zidi
* ITMIG classification of mediastinal anatomy: exposure through augmented reality – M. F. Tapia, D. Hasson, J. Alegria; Santiago/CL, Santiago de Chile/CL
* Mediastinal masses: A Systematic Approach to Differential Diagnosis – S. ABU ARIF, V. Helbo Jensen; Herning/DK
* Approach to Management of the Patient with Primary or Secondary Intrathoracic Goiter – Laszlo Hegedüs, Steen J. Bonnema
* RETROSTERNAL GOITRES: A PRACTICAL CLASSIFICATION – I.T. Cvasciuc, S. Fraser and M. Lansdown
* Intrathoracic mediastinal thyroid goiter: imaging manifestations – J A Buckley, P Stark
* CT cross-sectional imaging classification system for substernal goiter based on risk factors for an extracervical surgical approach – Giuseppe Mercante, Enrico Gabrielli, Corrado Pedroni, Debora Formisano
* Imaging findings of lesions in the middle and posterior mediastinum – Yoshiyuki Ozawa, Marehiko Hiroshima, Hiroyuki Maki








# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 13/7/2020
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 2/2/2020
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 6/1/2020
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 24/11/2019
Cập nhật Case lâm sàng 16/6/2019