I. Đại cương
– Khí phế thũng (pulmonary emphysema) là tình trạng giãn rộng vĩnh viễn các khoang khí phía xa tiểu phế quản tận, kèm phá hủy thành phế nang và không có xơ hóa rõ.
– Đặc điểm mô bệnh học: Xơ hóa mô kẽ liên quan hút thuốc có thể cùng tồn tại; điều này không loại trừ khí phế thũng khi có phá hủy thành phế nang điển hình.
– Cơ chế bệnh sinh: Các hạt và khí độc hại gây viêm, stress oxy hóa và mất cân bằng protease–antiprotease, góp phần phá hủy vách phế nang và làm giảm lực đàn hồi phổi, dẫn đến xẹp đường thở khi thở ra, ứ khí và tăng thể tích phổi.
– Phân biệt: Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (chronic obstructive pulmonary disease, COPD) là bệnh lý không đồng nhất gây triệu chứng hô hấp mạn tính và tắc nghẽn luồng khí dai dẳng do bất thường đường thở và/hoặc phế nang. Khí phế thũng là một kiểu tổn thương có thể gặp trong COPD; viêm phế quản mạn là hội chứng lâm sàng có thể đồng mắc.
– Dịch tễ: Tổng quan hệ thống và mô hình hóa của Adeloye và cộng sự (2015) ước tính năm 2010 có 384 triệu người từ 30 tuổi trở lên mắc COPD (11,7%; KTC 95%: 8,4–15,0%). Ước tính cập nhật của Adeloye và cộng sự (2022), theo định nghĩa GOLD, là 391,9 triệu người 30–79 tuổi năm 2019 (10,3%; KTC 95%: 312,6–487,9 triệu). WHO ghi nhận 3,4 triệu ca tử vong do COPD toàn cầu năm 2023 (cập nhật năm 2026).
* Lâm sàng:
– Khó thở tiến triển, thường không có đờm đáng kể.
– Thở nhanh.
– Không có tím.
– Thở mím môi, tư thế chống tay về phía trước.
– Lồng ngực giãn rộng: biểu hiện của phổi bị tăng thể tích.
– Tâm phế mạn: xuất hiện ở giai đoạn muộn.
– Các đặc điểm lâm sàng của khí phế thũng cần được phân biệt với viêm phế quản mạn tính. Bệnh nhân bị khí phế thũng thường có giảm CO₂ máu và được gọi là “pink puffers” (người hồng thở gấp). Ngược lại, bệnh nhân viêm phế quản mạn có tăng CO₂ máu (hypercapnia) và tím tái, được gọi là “blue bloaters” (người xanh phù).
* Yếu tố bệnh sinh:
– Hút thuốc lá (90%): phổ biến nhất. Hút thuốc gây viêm mạn tính, mất cân bằng giữa men phân hủy và chất ức chế men, dẫn đến phá hủy thành phế nang và giãn không hồi phục các khoang khí.
– Tiêm tĩnh mạch methylphenidate (Phổi Ritalin): là nguyên nhân rất hiếm gặp. Xảy ra khi người dùng nghiện ma túy nghiền viên methylphenidate (Ritalin) và tiêm vào tĩnh mạch. Gây tổn thương mạch máu và nhu mô phổi, dẫn đến khí phế thũng lan tỏa, đôi khi kèm tăng áp động mạch phổi.
– Viêm nhiễm
– Thiếu hụt alpha 1 antitripsin: là một rối loạn di truyền hiếm gặp, khiến cơ thể không sản xuất đủ chất ức chế men elastase. Elastase không được kiểm soát sẽ phá hủy elastin trong thành phế nang, gây ra khí phế thũng toàn tiểu thùy, thường ở thùy dưới và khởi phát sớm.
* Hình thái tổn thương:
– Khí phế thũng trung tâm tiểu thùy (Centrilobular emphysema): phổ biến nhất, khí phế thũng quanh động mạch trung tâm thùy phổi thứ cấp, liên quan đến sự hủy và giãn các tiểu phế quản hô hấp. Ống phế nang, túi phế nang và phế nang ít bị ảnh hưởng. Vùng trên thường gặp nhiều hơn vùng đáy phổi. Bệnh hay gặp ở bệnh nhân hút thuốc lá và thường kết hợp viêm phế quản mạn tính.
Tài liệu tham khảo
* Pulmonary Emphysema: Size Distribution of Emphysematous Spaces on Multidetector CT Images – Comparison with Macroscopic and Microscopic Morphometry – Afarine Madani, MD, Alain Van Muylem, PhD
* Imaging Studies in Emphysema – Paul J. Friedman
* Grainger & Allison’s Diagnostic Radiology – Andreas Adam
* Cystic pattern in lung diseases: a simplified HRCT guide based on free-hand drawings – D. C. Caltabiano, V. Costanzo, L. Mammino













# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 26/2/2022
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 16/12/2021
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 26/7/2021
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 6/5/2021
# Cập nhật nội dung bài viết & Case lâm sàng 22/4/2020